Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 23/02/2010 07:00 (GMT+7)

67 năm sau đọc lại Nam kỳ tuần báo

Chính vì bị động về mặt tài chính khi thành lập báo, nên NKTB cũng mất đi sự độc lập về tư tưởng chính trị. Điều này được thể hiện trong tôn chỉ khi NKTB xuất bản số báo đầu tiên.

Quá trình phát triển

Theo Lê Ngọc Trụ [3, tr 72], Nguyễn Ngu Í [5, tr 43], Huỳnh Văn Tòng [6, tr 56], Nguyễn Thành [7, tr 19], Tô Huy Rứa [11, tr 283], thì NKTB, năm thứ nhất, số 1, xuất bản ngày 3 - 9 - 1942.

NKTB, năm thứ 2, sau khi ra số 85 ngày 8 - 6 - 1944 thì đình bản. Về nguyên nhân đình bản, theo Nguyễn Khuê trong Chân dung Hồ Biểu Chánhthì “phần vì khan giấy, phần vì Hồ Biểu Chánh bất bình về thái độ của ông chủ Sở Thông tin Tuyên truyền” [6, tr 58].

Căn cứ vào việc thống kê các số NKTB mà chúng tôi hiện có, thì từ năm 1942 - 1944, giám đốc NKTB là Hồ Văn Trung (tức Hồ Biểu Chánh). Còn quản lý là Hồ Văn Kỳ Trân, con trưởng nam Hồ Biểu Chánh.

NKTB có một đội ngũ cộng tác viên là những nhà văn, nhà báo nổi tiếng đương thời như: Trúc Hà, Thiếu Sơn, Khuông Việt, Lê Chí Thiệp, Lê Thọ Xuân, Ngạc Xuyên, Miễn Trai, Trường Sơn Chí, Hương Trà, Bất Tử, Mã Sanh Long, Thượng Tân Thị, Trọng Liêm…

Về hình thức

NKTB từ số 2 - 1942 đến số 85 - 1944, đã trải qua nhiều lần thay đổi Măng -sét, cụ thể ở các số: số 4 - 1942, số 6 - 1942, số 9 - 1942, số 16 - 1942, số 24 - 1943, số 49 - 1943, số 53 - 1943, số 69 - 1944, số 70 - 1944. Nội dung thay đổi măng sét giữa các số báo chủ yếu là ở hình thức chữ viết và cách trình bày.

NKTB được in trên khổ giấy 320 x 245mm.

Số trang của NKTB không ổn định. Có khi số trang tăng đột biến, nhất là khi ra số đặc biệt, như số 22 - 1943, số Tết, dày tới 66 trang. NKTB từng thông báo rằng “số báo đặc biệt về cụ đồ Chiểu sẽ nhiều trang gấp đôi số báo thường, sẽ in vào 1 thứ giấy thật tốt và cách sắp đặt ấn loát cũng công phu khéo léo hơn số thường nhiều” (NKTB số 39 - 1943). Nhưng có khi số đặc biệt, như số kỉ niệm Khổng Tử (NKTB số 53 - 1943), số trang vẫn chỉ có 19 trang. Tóm lại, số trang NKTB, tăng giảm không ổn định, càng về sau, nhất là các số xuất bản trong năm 1944 (từ số 68 - số 85), số trang ổn định ở mức 19 trang (trừ trường hợp số 85, chỉ có vỏn vẹn 15 trang). Số trang trên NKTB càng về sau càng mỏng manh, có lẽ do lúc này giá giấy tăng cao và lực lượng cộng tác viên giảm dần. Bằng Giang trong Mảnh vụn văn học sử,nói rằng: do những người cộng tác biết NKTB nhận trợ cấp của nhà cầm quyền Pháp nên từ đó các cây bút cộng tác lần hồi vắng bóng [1, tr 185].

Về cách đánh số trang: Số 2 - 1942 số trang được đánh dưới góc phải của trang báo. Từ số 3- 1942 đến số 50 - 1943, số trang được đánh ở phía dưới, ngay chính giữa trang báo. Cách đánh số trang này ổn định đến số 60 - 1943. Nhưng từ số 61 - 1943 đến số 85 - 1944 lại quay trở về cách đánh số trang giống như từ số 3 - 1942 đến số 50 - 1943. Như vậy về cách đánh số trang, NKTB có ba lần thay dổi cách đánh số trang (đó là chưa kể những số báo còn chưa sưu tầm được - TG).

Về nội dung

NKTB chủ trương:

1. Buộc chặt dây liên lạc cho Đông – Pháp với Pháp - Quốc, để cùng nhau cộng hưởng, tôn vinh tương lai, mà cũng cùng nhau chung lo hoạn nạn hiện tại;

2. Đào tạo một tinh thần mới cho quốc dân, tinh thần ấy vừa thích hiệp với tánh khí hào hùng tấn thủ của thời đại, để chúng ta xô đẩy nước nhà đi theo một nhịp với chấn hưng với Pháp quốc mà Quốc trưởng Pétain đã bắt đầu thiệt hành với biểu hiện “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc” và với một chương trình rất sáng suốt, mà cũng rất cao thượng;

3. Khôi phục những điểm thuần phong mỹ tục cửa tổ phụ lưu truyền mà trong khoảng sau này quốc dân viện lẽ tấn hoá rồi lãng lơ, không muốn chú trọng nữa;

4. Phụ giúp với bực trí thức đặng mở đường học tập cho quốc dân, học tập về văn chương, về nghề nghiệp, về đạo đức, về tinh thần, về tâm chí” (Hồ Văn Trung: Kính cáo đồng nhơn, NKTB, số 1, ngày 3 – 9 – 1942, tr 2) [6, tr 56].

Như vậy, NKTB là một tờ báo có xu hướng chính trị thân chính quyền thuộc địa Pháp khá rõ. Còn về văn hoá và văn học, nói như cách của NKTB là “nuôi lấy chủ nghĩa chấn hưng luân lí tổ tiên, bồi bổ nền văn hoá Việt Nam ” (NKTB, số 50 – 1943).

Các chuyên mục trên NKTB rất phong phú và đa dạng. Có thể kể một số chuyên mục chính như: xã luận, văn học, khảo cứu, dịch thuật, thanh niên, thể thao, gia đình, tin trong nước, tin thế giơí…

Chuyên mục xã luận: Do Hồ Văn Trung (Hồ Biểu Chánh), có khi để trống hoặc ghi là N.K.T.B, chủ trì. Nội dung các bài xã luận đề cập đến nhiều đề tài khác nhau như: chính trị, luân lí, văn hoá, giáo dục… Kết thúc mỗi bài xã luận, tác giả thường hay trích một câu nói của thống chế Ph. Pétain, đóng khung, đặt giữa hoặc cuối bài báo.

Chuyên mục văn học: Chuyên mục thú vị này đã quy tụ được nhiều cây bút nổi tiếng đương thời, như: Thiếu Sơn, Trúc Hà, Khuông Việt, Nguyễn Hữu Trí, Vi Ta, Thân Văn, Nguyễn Tả Chơn, Đào Thanh Phước… Đặc biệt với sự có mặt của giám đốc, kiêm tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh. NKTB đăng đủ các thể loại văn học, từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, cho đến các thể kí, tuỳ bút, kịch… Nhưng đáng chú ú nhất vẫn là truyện ngắn và tiểu thuyết.

Trang thơ trên NKTB được sáng tác từ nhiều nguồn cảm hứng khác nhau: cảm hứng về tình yêu, cảm hứng về thế sự, cảm hứng về thương cảm… Có thể kể đến một số tác giả thường xuất hiện, như: Nguyễn Hữu Trí, Cao Chi, Trần Hồng, Hải Ngô, Tịnh Đế… nhìn chung mảng thơ trên NKTB không đặc sắc lắm.

Trang truyện ngắn trên NKTB khá đặc sắc. Các tác phẩm chủ yếu được viết bằng cảm hứng tình yêu, cảm hứng đạo lý và cảm hứng phê phán… Có thể kể đến một số cây bút quen thuộc như: Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Tả Chơn, Tố Quyên, Vi Ta, Thân Văn…

Trang tiểu thuyết trên NKTB là mảng đặc sắc nhất trong chuyên mục văn học. Hồ Biểu Chánh là cây bút chủ trì trang này với những tiểu thuyyết nổi tiếng như: Ý và tình, Tìm đường, Mẹ ghẻ con ghẻ.Ngoài ra chuyên mục này còn đăng tiểu thuyết Tây Phương hiệp sĩ,do Thân Văn Nguyễn Văn Quý dịch từ tác phẩm Le Vicomte de Bragéonnecủa Alexandre Dumas và một số đoản thiên tiểu thuyết của Thiếu Sơn ( Chu Kiều Oanh, Giấc mộng vu sơn…) và Đào Thanh Phước ( Cơ tư Phượng).

Các bài nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học trên NKTB khá ít ỏi, mỗi thể loại chỉ có một vài bài. Nghiên cứu văn học có Trúc Hà, Tam Chi, Hữu Nhân, Ngô Văn Đức… Lí luận văn học có Quang Phong. Hai nhà phê bình nổi tiếng đương thời, Thiếu Sơn và Trúc Hà vẫn có mặt. Nhưng Thiếu Sơn lại tập trung viết những thể loại khác. Trong mấy năm cộng tác với NKTB, Trúc Hà viết phê bình văn học cũng không nhiều như hồi trên báo Sống(1935) trước đây. Mã Sanh Long tuy không phải là một cây bút chuyên phê bình văn học, nhưng vẫn góp mặt một bài.

Các thể kí, tuỳ bút, kịch… trên NKTB cũng khá phát triển. Có thể kể một số tên tuổi như: Thiếu Sơn, L.T.K, N.T, Trúc Hà, Nguyễn Thị Tố Lan, Không Việt, Thái Hữu Thành, Trọng Liêm, Ngọc ước, Phong Vũ, Kim Tử Anh, Cao Chi…

Ngoài ra các chuyên mục khác như: khảo cứu, dịch thuật, gia đình, thể thao… mỗi chuyên mục điều có một nội dung phong phú, đặc sắc riêng, tất cả góp phần làm nên phong cách và cá tính của NKTB.

Vai trò và đóng góp của NKTB trong lịch sử phát triển báo chí và văn học hiện đại Việt Nam

Cung cấp và phổ biến thông tin là thế mạnh của báo chí. Cũng như các tờ báo đương thời, NKTB đã cung cấp thông tin thuộc nhiều lĩnh vực, đa ngành, từ chính trị, kinh tế, xã hội, cho đến nền văn hoá, văn học… NKTB luôn đề cao việc “chấn hưng luân lý tổ tiên, bồi bổ nền văn Việt Nam ” (NKTB, số 50 - 1943).

Sự hiện diện của NKTB đã góp phần làm cho bức tranh sinh hoạt tinh thần ở Nambộ nói riêng và Việt Nam nói chung thêm phong phú, đa dạng. Vì địa bàn phát hành của NKTB rộng khắp cả nước, lượng độc giả cũng rất đông đảo. “ Namkỳ tuần báocó tính cách phổ thông” [6, tr 76], nên có thể phục vụ nhiều dạng đối tượng độc giả khác nhau, từ giới bình dân cho đến giới trí thức.

Riêng ở lĩnh vực văn học, NKTB đã có những đóng góp rất đáng ghi nhận. Thể loại nào cũng có những nét đặc sắc riêng và có đóng góp nhất định vào quá trình hiện đại hoá văn học Quốc ngữ ở Nam bộ nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung.

Tài liệu tham khảo

1. Bằng Giang (1974),Mảnh vụn văn học sử, Nxb Chân Lưu, Sài Gòn.

2. Huỳnh Văn Tòng (2000),Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945, Nxb TPHCM, tái bản.

3. Lê Ngọc Trụ (1966), Nha văn khố và thư viện quốc gia- Mục lục báo chí Việt ngữ 1865 – 1965. Ấn hành nhân tuần lễ kỉ niệm 100 năm báo chí Việt ngữ, Sài Gòn.

4.Nam kỳ tuần báo (từ năm 194 2- 1944): không liên tục.

5. Nguyễn Ngu Í (1966),Báo chí hôm qua 1865 - 1965. Thử nhìn 100 năm báo chí. Bách khoa, số 25, tr 5 - 54.

6. Nguyễn Khuê (1974),Chân dung Hồ Biểu Chánh, Nxb Lửa thiêng, Sài Gòn.

7. Nguyễn Thành (2002),Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam , Nxb Văn hoá - thông tin.

8. Đỗ Quang Hưng (cb), Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc (2000),Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 - 1965), Nxb ĐHQG Hà Nội.

9. Phan Khoang (1974),Việt Nam Pháp thuộc sử , Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, Sài Gòn.

10. Thiếu Sơn (1967),Nhớ Hồ Biểu Chánh, Tập san Văn, số 80 (số tưởng niệm Hồ Biểu Chánh), tr 25 - 27.

11. Tô Huy Rứa (cb) (1998),Thư tịch báo chí Việt Nam , Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.

12. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (cb) (1998),Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh (II, Văn học), Nxb, Tp. HCM.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.