Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 17/07/2007 00:18 (GMT+7)

“Xứ sở của vàng” và lễ tế kỳ kim

Vào thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn viết: “Xứ Quảng Nam các núi Trà Nô, Trà Tế, nguồn Thu Bồn, phủ Thăng Hoa sản nhiều vàng” (1). Năm 1885, tư bản Pháp tiến hành thăm dò và tổ chức khai thác vàng ở vùng núi Kẽm, lấy tên là Công ty vàng Bồng Miêu. Tên mỏ vàng Bồng Miêu xuất hiện từ đấy thay cho các tên gọi cũ.

Việc khai thác vàng ở xứ Quảng đã được những cư dân bản địa là người Chăm tiến hành hàng chục thế kỷ trước. Những dấu vết còn lưu lại đến hôm nay trên hiện trường khai thác vàng và những di chỉ khảo cổ học được khai quật trong những năm gần đây đã chứng minh rõ điều đó.

Theo thư tịch cổ Trung Hoa ( Lương thưviết vào thế kỷ thứ VII) thì vào năm 446, trong trận đánh chiếm kinh đô Lâm Ấp là Simhapura (nay là vùng Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên) quân của tướng Đàn Hoài Chi đã tịch thu các tượng vàng tại đây đem nấu chảy được mấy chục vạn cân (có lẽ con số được phóng đại). Chắc rằng số vàng dùng để đúc tượng nói trên là do các vua chúa và các quý tộc Lâm Ấp (về sau gọi là Chămpa) bắt dân bản địa đi đào đãi trong suốt nhiều thế hệ tạo nên:

Sau chiến thắng của vua Lê Thánh Tông năm 1471, biên giới của quốc gia Đại Việt mở xuống phía Nam đến đèo Cù Mông, thì những lưu dân từ Thanh - Nghệ đến các tỉnh phía Bắc lần lượt vào định cư ngày một đông, hình thành nên thừa tuyên Quảng Nam, thừa tuyên thứ 13 của Đại Việt. Trong quá trình cộng cư với dân bản địa, người Việt đã tiếp nhận thêm những kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất của người Chămpa như nghề đóng ghe bầu, chế biến nước mắm, từ cá biển, chế biến đường cát, dẫn thuỷ nhập điền, đào đãi và luyện vàng…

Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563 – 1635), tại phủ chúa đã lập thêm Ty Kim tượng để chuyên lo việc khai thác và thu thuế từ vàng. “Họ Nguyễn đặt hộ đãi vàng ở các phủ, gọi là thuộc kim hộ để quản và thu thuế những người đi đào đãi vàng. Mỗi năm dân chánh bộ phải nộp 3 đồng cân vàng, được miễn đi lính và sưu dịch. Năm nào không tìm đủ số vàng phải nộp thay bằng tiền 4 quan” (2).

Vàng đã trở thành một nguồn thu quan trọng và là một trong ba mặt hàng xuất khẩu có giá trị của Đàng Trong (vàng, đường cát, tơ lụa) của các chúa Nguyễn. Theo thống kê của Chưởng thái giám Mai Văn Hoan thời Nguyễn Phúc Khoát (1741 – 1765) trong vòng 7 năm, phủ chúa đã thu từ nguồn vàng Chiên Đàn một số vàng đánh kể: 5.768 lạng (3).

Chính nguồn vàng của xứ Quảng được khai thác trong thời kỳ này đã giúp cho họ Nguyễn có thể mua súng đạn, nhất là trọng pháo của phương Tây để trang bị cho quân đội đủ sức đương đầu với những cuộc tấn công của quân Trịnh mạnh gấp đôi, thâm chí gấp ba lần quân Nguyễn trong gần nửa thế kỷ “Nam - Bắc phân tranh” (1627 – 1672). Cũng theo Lê Quý Đôn, một người Quảng Nam tên là Giang Huyền đã cậy vào thế lực của Quốc phó Trương Phúc Loan, trưng cả một hòn núi, rồi tổ chức khai thác vàng đem về Hội An bán cho khách Trung Hoa, mỗi năm thu không dưới một ngàn hốt vàng (4).

Ở thế kỷ XVII – XVIII, vàng của xứ Quảng đã chiếm một tỷ trọng đáng kể trong giá trị hàng hoá xuất khẩu, góp phần làm tăng sự thịnh đạt của cảng thị Hội An, thu hút các lái buôn phương Tây không chỉ ở số lượng mà còn ở chất lượng, mang lại cho họ lợi nhuận rất cao. Do đó nhiều lái buôn phương Tây coi Quảng Nam là “xứ sở của vàng”. Trong quyển Ký ức về Đàng Trongcủa Bênin Va-sê (Bénigne Vachet – 1671) ghi: “Vàng Đàng Trong (tức Quảng Nam ) có rất nhiều vàng cát (vàng sa khoáng), có cả những cục vàng to bằng hạt dẻ mà tinh khiết” (5). Lái buôn Pie Poa – vơ – rơ (Pierre Poivre) đến Hội An năm 1749, có nhận xét: “Đàng trong là xứ sở của vàng thật … vàng mua ở Hội An, đưa sang Quảng Đông (Trung Quốc) bằng tàu, bán được ngay, đem lại 100% lãi (6). Một lái buôn khác là Sápman (Chapman) trong Ký sự một chuyến đi Đàng Trong 1778ghi nhận: “Vàng lấy ở mỏ xứ Quảng Nam là một thứ vàng gần như nguyên chất”.

Chính vì mối lợi to lớn do vàng mang lại, nên các vua nhà Nguyễn rất quan tâm đến việc quản lý và tổ chức khai thác vàng. Các vua Nguyễn đã huy động bộ máy nhà nước và cả quân đội đứng ra mộ phu, tổ chức khai thác vàng, cử một số quan đại thần như Trương Phúc Cương, Phan Thanh Giản, Võ Đức Khuê phụ trách việc khai thác mỏ vàng; ban dụ định lệ đánh thuế các hộ đãi vàng; đề ra nhiều biện pháp cứng rắn nhằm ngăn chặn các thương nhân Trung Hoa lãnh trưng khai mỏ tuồn vàng ra bên ngoài…

Sau khi lên ngôi được một năm, Gia Long ban hành dụ định lệ đánh thuế các kim hộ ở Quảng Nam . Dụ này qui định “dân tráng hạng mỗi năm nộp 2 đồng cân, 2 ly vàng cùng tiền thuế thân 1,5 quan tiền; dân đinh và lão tật nộp một nửa” (7). Tiếp theo năm sau đó (1804) nhà vua đã hạ lệnh giết một viên quản trị thuộc kim hộ phủ Thăng Hoa là Nguyễn Đức Tuỵ về tội tham nhũng trong việc thu thuế vàng, nhằm cảnh báo các quan chức khác có ý đồ hà lạm tiền thuế khoá từ vàng (8).

Vua Minh Mạng (1820 – 1840) đã xuống dụ: “Vàng là nguồn của báu nằm dưới đất, rất có quan hệ đến thuết khoá của nhà nước phải nhân mối lợi mà làm ra lợi, há mà bỏ đấy! Vậy hạ lệnh cho quan địa phương mộ thuê những phu quen làm nghề mõ, rồi phái người đến đốc suất mà khai hay lập ra hộ làm vàng, châm chước thành ngạch thuế để quốc dụng được tăng thêm” (9). Từ năm 1824, mức thuế thường niên của người dân làm nghề đào vàng đã tăng lên 3 đồng cân 3 phân vàng, còn thuế thân thì được miễn.

Năm 1831, Phạn Thanh Giản đem 300 lính và mộ 700 dân phu người địa phương, tổ chức khai thác vàng ở Chiêu Đàn. Một nghìn người tập trung vào một công trường thủ công thời ấy được coi là sự kiện lớn. Thế nhưng do yếu kém về quản lý, do lối bóc lột nhân công thu lợi theo lối nô dịch phong kiến, nên không phát huy được năng suất của người lao động, dẫn đến sự chống phá của kỹ thuật viên Hoa kiều, đã dẫn đến sự thua lỗ lớn. Cho nên sau một thời gian, việc khai thác mỏ vàng này phải phá sản, quan lại bị cách chức. Trong khi đó, thì chỉ một huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, trong năm 1839, 4.120 dân kim hộ đã nộp thuế cho nhà nước 1.220 lạng vàng (10). Đó là một nguồn thu ngân sách khá lớn thời đó.

Mặc dù thời Minh Mạng và Thiệu Trị đã ban hành nhiều biện pháp giám sát Hoa thương lãnh trưng khai thác các mỏ đưa vàng ra ngoài nước, nhưng nạn “chảy máu vàng” vẫn tiếp tục diễn ra.

Với bản hiệp ước Harmand (còn gọi là hiệp ước Quý Mùi) ngày 15 – 8 – 1883), triều đình Huế thừa nhận sự “bảo hộ” của Pháp ở Trung kỳ và Bắc kỳ. Chỉ hai năm sau, Công ty Bồng Miêu của tư bản Pháp được thành lập với vốn hơn một triệu phờ-răng (franc) tương đương với 300 ký vàng, bắt đầu thăm dò và khai thác vàng bằng công nghệ hiện đại. Đến năm 1900, Công ty Bồng Miêu II mở thêm mỏ mới ở núi Kẽm và vận hành cho đến chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945) thì ngưng hoạt động. Trong 40 năm (1900 - 1940) theo số liệu công bố của chính quyền thực dân, sản phẩm vàng khai thác ở mỏ Bồng Miêu – núi Kẽm là 3.500 ký lô vàng. Đây là số lượng vàng lớn nhất được khai thác bằng công nghệ hiện đại ở nước ta thời bấy giờ.

Hiện nay (2006), mỏ vàng Bồng Miêu đã chính thức trở thành mỏ vàng đầu tiên của Việt Nam được Công ty khai thác vàng Bồng Miêu liên doanh với Công ty (Olympus Pacific Minerals Inc (Canada) và hai doanh nghiệp Việt Nam là Công ty Phát triển Khoáng sản thuộc Bộ Công nghiẹp và Công ty cổ phần Công nghiệp Khoáng sản Quảng Nam khai thác.

Dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, người dân các hộ thuộc kim hộ tuy được miễn đi lính, miễn sưu dịch nhưng lại bị những ràng buộc ngặt nghèo khác. Người đi đào đãi vàng, gọi là “kim dân” phải nộp đủ số vàng quy định hàng năm cho quan cai thuộc. Nếu người nào không có đủ số vàng để nộp, thì phải nộp bằng tiền. Không đủ tiền thì bị đóng gông giải về trên để xử tội. Mà đồng tiền của người nông dân xưa đâu phải dễ kiếm.

Không có thống kê nào cho thấy số người đã chết vì tai nạn lao động, vì dịch bệnh trong quá trình khai thác vàng dưới thời phong kiến được lưu lại. Nhưng chắc chắn số người bỏ mạng trong lòng đất, nơi sông suối, trong rừng sâu, hay trở thành tàn phế để đổi lấy thứ kim loại quý này không ít. Do đó, các làng có nhiều người làm nghề đào đãi vàng có lập miếu thờ những “kim dân” đã quá cố, nhất là những người chết “bất đắc kfy tử”. Sách Đồng Khánh dư địa chí lượccó nhắc đến tên nhiều làng lập miếu thờ những người làm nghề này ở huyện Hà Đông như: Dương Đàm, Phú Ninh, Trà Cam, Bồng Miêu… Một đặc điểm đáng lưu ý là kết thuộc vào tính rủi may rất lớn. Do đó, bản thân người lao động trong nghề này thường tin vào một thế lực siêu nhiên, vô hình nào đó có quyền truyền thuyết về “vàng Hời”, “ma Hời” với những tình tiết hoang đường, mê tín khá phổ biến trong dân gian ngày xưa ở xứ Quảng cũng là một yếu tố tác động đến họ về mặt tâm linh. Vì vậy, một tín ngưỡng đã thành nếp là việc tổ chức cúng bái ở miếu thờ những “kim dân” đã khuất, hoặc ở miếu âm linh trong làng để cầu mong một sự phù hộ, độ trì của thần linh, thường được gọi là lễ tế Kỳ kim. Sách Đồng Khánh dư địa chí lượccòn cho biết: “Hàng năm sau Tết Nguyên đán, vào đầu xuân, người dân trong làng góp tiền mua sắm lễ vật đến mở hội tế lễ tại các miếu thờ những người làm nghề lấy vàng (kim dân) rồi chia nhau đi khắp nơi đãi cát lấy vàng” (12). Ngoài ra các “trường vàng” trước khi mở hầm đào sâu vào lòng núi, những người phu đào vàng còn tổ chức lễ cúng gọi là “lễ khai kim huyệt” (13). Nhưng có lẽ tưng bừng và vui tươi hơn cả đối với dân các kim hộ là dịp lễ ăn mừng về kết quả lao động may mắn “bội thu” vàng sau những ngày tháng lao động vất cả; nó vừa mang ý nghĩa mừng công, mừng thắng lợi, vừa biểu tỏ thái độ tri ân với những người “khuất mặt” mà họ đã gửi gắm niềm tin về mặt tâm linh trong các dịp lễ tế hàng năm.

Cũng như mọi sự vật khác ở trên đời, có sinh thành, phát triển thì ắt có tiêu vong; lễ hội, tế lễ là loại sản phẩm tinh thần, sản phẩm văn hoá cũng chịu sự chi phối của qui luật chung đó.

Lễ tế Kỳ kim cũng trở thành chuyện vang bóng một thời, bởi môi trường xã hội để nó tồn tại không còn nữa. Thực ra lễ tế Kỳ kim đã bắt đầu tàn lụi từ khi phương thức khai thác vàng ở tư bản Pháp được áp dụng ở mỏ Bồng Miêu vào đầu thế kỷ XX.

(1)   Lê Qúy Đôn, Phủ Biên tạp lục, Nxb KHXH, 1977, tr227.

(2)   Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, 1963, tr215.

(3)   (4) Lê Quý Đôn, sđd, tr.225 – 227.

(4)   (6) Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII – XVIII và đầu thế kỷ XIX, Nxb Sử học, 1961, tr.117.

(7) (8) Đại Nam thực lục, tập III, sđd, tr25 -33.

(9) Đại Nam thực lục, tập 10, sđd, tr.333.

(10) (11) Đỗ Bang, Khảo cứu kinh tế và bộ máy nhà nước triều Nguyễn… Nxb Thuận Hoá, 1998, tr 50 – 54.

(12) Dẫn theo Từ điển di tích văn hoá Việt Nam , Nxb KHXH, 1972, tr.111.

(13) Lê Quý Đôn, sđd, tr.225.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.