PGS.TS Hoàng Văn Nghĩa: Thể chế là then chốt trong phòng chống tham nhũng
Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa cho rằng, thể chế, minh bạch, số hóa và trách nhiệm giải trình là “đột phá của đột phá” trong phòng, chống tham nhũng.
Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống bên hành lang Quốc hội Kỳ họp thứ Nhất Quốc hội Khóa XVI, Đại biểu Quốc hội, PGS.TS Hoàng Văn Nghĩa (đoàn Quảng Ngãi) cho rằng, trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí phải bắt đầu từ gốc, chính là thể chế pháp luật và cơ chế vận hành của bộ máy.
Theo ông Nghĩa, những định hướng lớn hiện nay không chỉ dừng ở hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn phải thay đổi tư duy lập pháp và lập sách, phương thức quản trị, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn bộ hệ thống hành chính.

Đại biểu Quốc hội, PGS.TS Hoàng Văn Nghĩa. Ảnh: Mai Loan.
THEN CHỐT CỦA THEN CHỐT CHÍNH LÀ THỂ CHẾ
- Đâu là khâu then chốt trong hoàn thiện thể chế để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí, thưa ĐBQH Hoàng Văn Nghĩa?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trong bài phát biểu Khai mạc Kỳ họp thứ nhất Quốc hội XVI đã nhấn mạnh: “Cần đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo, phát triển”, “kiến tạo tương lai”, “pháp luật tốt trong cuộc sống”, và “kiên quyết phòng chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động làm méo mó chính sách”.
Tôi cho rằng, khâu “then chốt của then chốt” chính là thể chế nói chung, và đặc biệt là thể chế pháp luật kiến tạo và phát triển. Theo đó, thể chế pháp luật chính là nền tảng quyết định hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí. Hiện nay, có ba nhóm giải pháp rất quan trọng.
Thứ nhất là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đặc biệt là các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng ngừa từ sớm, từ xa.
Thứ hai là tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là “đột phá của đột phá”, bởi khi mọi thông tin được minh bạch hóa thì cơ hội phát sinh tiêu cực sẽ bị thu hẹp rất mạnh.
Thứ ba là gắn hoàn thiện thể chế với yêu cầu phát triển mới của đất nước, vừa bảo đảm tăng trưởng nhanh, hai con số, vừa bền vững, vừa nâng cao năng lực và hiệu quả của quản trị quốc gia và quản trị địa phương.
- Minh bạch và chuyển đổi số được nhìn nhận như thế nào trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thưa ông?
Minh bạch là nền tảng cốt lõi. Khi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận đầy đủ thông tin về chương trình, dự án, quá trình thực hiện thì khả năng giám sát xã hội sẽ tăng lên rất lớn.
Đặc biệt, việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin kỳ này có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng quyền tiếp cận dữ liệu công khai, minh bạch để tăng cường cơ chế giám sát phòng chống tham nhũng.
Song song với đó, chuyển đổi số đang tạo ra một thay đổi rất căn bản trong quản trị hiệu quả. Khi dữ liệu “sống, sạch, đúng, đủ” được số hóa toàn diện, các chu trình chính sách, quản trị được vận hành trên nền tảng số, sẽ giảm thiểu được những nguy cơ và rủi ro do tính chủ quan, động cơ vị lợi của cá nhân, lợi ích nhóm trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách tạo ra.
Chúng ta đang tiến tới quản trị dựa trên dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả điều hành mà còn giúp phòng ngừa sai phạm ngay từ khâu đầu vào.
VỪA CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG, VỪA ĐẨY MẠNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
- Nhiều ý kiến nhấn mạnh mô hình “4 không”: không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng. Ông có thể phân tích rõ hơn?
Đây là cách tiếp cận mang tính hệ thống. “Không thể” và “không dám” phụ thuộc vào hệ thống pháp luật nghiêm minh, cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ và năng lực thực thi hiệu quả. “Không muốn” và “không cần” lại liên quan trực tiếp đến chế độ đãi ngộ và đạo đức công vụ.
Nếu muốn giảm động cơ tiêu cực, trước hết phải đẩy mạnh việc cải cách chính sách tiền lương để cán bộ, công chức, viên chức có đời sống tương xứng, có cơ chế thu hút, sử dụng, đãi ngộ người tài, người có năng lực, phẩm chất, trình độ, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của đất nước, để họ tận tâm, tận hiến, tận lực và yên tâm công tác.
Nhưng quan trọng hơn cả là tiếp tục nêu cao việc học tập và thực hành noi theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; kỷ luật nghiêm minh theo các quy định của Đảng và quy định pháp luật; xây dựng nền công vụ ưu tú, hiện đại, hội nhập và phát triển dựa trên văn hoá và đạo đức liêm chính, tinh thần phụng sự Nhân dân, Tổ quốc được đặt lên hàng đầu.
- Theo ông, thu nhập có phải là yếu tố quyết định để ngăn ngừa tham nhũng không?
Theo tôi, thu nhập tương xứng, thích đáng và chế độ đãi ngộ là rất quan trọng, nhưng không phải yếu tố duy nhất. Thực tiễn quốc tế, như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, cho thấy bên cạnh chế độ đãi ngộ hợp lý, yếu tố mang tính quyết định lâu dài chính là văn hóa liêm chính và đạo đức công vụ. Do đó, chúng ta phải đồng thời làm hai việc: vừa cải cách tiền lương, vừa đẩy mạnh giáo dục đạo đức công vụ, từ hệ thống giáo dục phổ thông đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Mục tiêu là hình thành tư duy kiến tạo, phát triển, văn hoá và đạo đức công vụ phụng sự, đặt lợi ích nhân dân và Tổ quốc lên trên hết và trước với lợi ích cá nhân.
TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH VÀ QUẢN TRỊ DỰA TRÊN DỮ LIỆU
- Trách nhiệm giải trình cần được hiểu và thực hiện như thế nào trong thực tiễn, thưa ông?
Trách nhiệm giải trình, theo tôi là yêu cầu bắt buộc trong mô hình quản trị hiện đại, nhà nước kiến tạo và phát triển, Mỗi cơ quan, mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải luôn nêu cao việc thực hành nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước, thường xuyên chịu sự giám sát của Nhân dân và chịu trách nhiệm giải trình công khai và đầy đủ đối với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trước cơ quan, tổ chức, trước người dân và doanh nghiệp thông qua các cơ chế theo quy định như tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đối thoại chính sách... Giải trình về quy trình, tiến độ xử lý, kết quả công việc, lý do của những việc chưa làm được, cũng như hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Quan trọng hơn, cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế pháp lý chặt chẽ và nghiêm minh để trách nhiệm giải trình được thực thi hiệu quả, qua đó người dân và doanh nghiệp được lắng nghe, phản hồi và tham gia giám sát quá trình thực thi chính sách.
Khi chu trình chính sách được xây dựng, ban hành, thực thi dựa trên thể chế minh bạch và trách nhiệm giải trình; khi các hoạt động giám sát thực chất và hiệu quả của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, phản biện xã của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân ngày càng được tăng cường, thì quyền lực sẽ được kiểm soát ngày càng tốt hơn và bộ máy chính quyền các cấp sẽ được vận hành trơn tru hơn, minh bạch hơn, hiệu quả, gần và sát với dân và doanh nghiệp hơn.
- Nếu khái quát lại những giải pháp trọng tâm hiện nay, ông nhấn mạnh điều gì?
Tôi cho rằng có ba trụ cột lớn. Một là tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Hai là đẩy mạnh chuyển đổi số, số hóa toàn bộ hoạt động quản lý và tiến tới quản trị toàn trình dựa trên dữ liệu, dựa trên kết quả (KPI) là sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Ba là xây dựng nền công vụ ưu tú, hiện đại, hội nhập và phát triển, dựa trên đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mẫn cán, tận tâm, liêm chính, đề cao đạo đức công vụ, luôn có tinh thần phụng sự nhân dân, vì Nhân dân phục vụ.
Khi ba trụ cột này được triển khai đồng bộ, mục tiêu xây dựng nền hành chính “không thể, không dám, không muốn và không cần tham nhũng” mới có thể trở thành hiện thực.
Trân trọng cảm ơn ông!








