Xe nước Quảng Ngãi
Đến Quảng Ngãi ngày nay không ai có thể thấy bất cứ một xe nước nào. Kỳ thực xe nước vẫn còn hiển hiện chỉ cách nay vài chục năm, và lặng khuất. Xe nước đã “chạy” liên tục mấy thế kỷ trên con sông Trà Khúc, sông Vệ với không phải hàng chục mà hàng trăm chiếc. Mỗi chiếc không chỉ một vài mà có hàng chục bánh xe sắp thành hàng quay đều liên tục trên sông. Sự hiện diện của xe nước như đã thành một hình ảnh quá đỗi thân quen với người dân Quảng Ngãi. Thời phong kiến có một số thư tịch nói về xe nước. Thời Pháp thuộc, các quan chức thực dân cũng rất chú ý đến xe nước và có người đã ra công nghiên cứu, để lại những tư liệu rất có giá trị … Xe nước còn là đề tài khám phá, sáng tạo của khoa học và nghệ thuật. Hơn thế, xe nước gần như là một biểu tượng của vùng đất nông nghiệp Quảng Ngãi.
Nhiều công trình dựa vào các tư liệu cổ đã khẳng định xe nước hiện diện ở tỉnh Quảng Ngãi từ khá sớm. Đó là các bài viết của quan chức Pháp như A. Laborde, P. Guilleminet, Borel, của Nguyễn Bá Trác thời Pháp thuộc. Borel, một nhân viên trồng trọt phụ trách tại trạm thí nghiệm Quảng Ngãi viết trên Tạp chí Kinh tế Đông Dương (B.E.I.C) năm 1906 nhan đề “Ghi chép về guồng xe nước ở tỉnh Quảng Ngãi” (nguyên văn tiếng Pháp Notes sur les Norias de la Province de Quảng Ngãi) khẳng định rằng “Những guồng xe nước là những phương tiện thực sự duy nhất để tưới nước lâu nay ở tỉnh Quảng Ngãi” […] Có một số lớn guồng nước đã làm cho một số lớn ruộng đất của tỉnh phát huy được giá trị. Không có những guồng nước ấy, trong suốt mùa khô từ tháng 4 đến cuối tháng 9, các ruộng ấy sẽ đành phải bỏ hoang”. Còn A. Loborde thì không viết chuyện luận riêng về xe nước mà đề cập đến xe nước trong bài viết chung về tỉnh Quảng Ngãi. Ông viết: “Những bánh xe nước rất lớn này là một trong những điều lạ lùng của tỉnh Quảng Ngãi, chúng hiển hiện trước cái nhìn kinh ngạc của người xem với một sự đan kết lạ lùng của hàng ngàn tấm nan tre. Người ta thấy được nhiều guồng xe nước đẹp khi qua chuyến đò ngang rất gần [thành] Quảng Ngãi” (1). Tài liệu viết ở thời điểm năm 1925, Laborde viết tiếp: “Con sông gọi là sông Trà Khúc, đếm được 38 guồng xe nước, và ít nhất cũng có chừng ấy cái trên sông Vệ, nằm xa về phía nam. Toàn bộ những guồng nước tưới cho một diện tích gần 8.000 héc-ta, số ruộng này, nếu không có hệ thống tưới hoàn thiện như vậy, sẽ chỉ là vùng đất khô cằn buồn chán” (2). Ở đây Laborde đã đánh giá tầm quan trọng của guồng xe nước ở Quảng Ngãi, tuy nhiên, hình như các số liệu ở đây mới chỉ mang tính chất ước lượng mà chưa thực sự chính xác. Bởi vì ngay trong năm sau, P. Guilleminet, Chánh sở dân vụ, đã cho một số liệu hoàn toàn khác. Trong một chuyên khảo rất công phu mang tên “Một ngành công nghiệp An Nam: Các guồng nước ở Quảng Ngãi” (nguyên văn tiếng Pháp Une industrie Annamite: Les Norias du Quảng Ngãi) chép rằng ở thời điểm ấy chừng 110 guồng nước với 500 bánh xe nước ở Quảng Ngãi (3). Bảy năm sau, năm 1933, trong Quảng Ngãi tỉnh chí do Tuần vũ Quảng Ngãi là Nguyễn Bá Trác chủ trương, đăng trên Nam Phong tạp chí, các tác giả đã khẳng định ở Quảng Ngãi có 96 xe nước và nhấn mạnh: “Đương lúc nhà nước chú ý về nông dân, do mở mang thuỷ lợi dẫn thuỷ nhập điền, sự thành tựu vẫn còn xa, mà nếu tỉnh Quảng Ngãi này không có các bờ xe nước kia thì mùa màng sẽ bị nhiều điều nguy hiểm trong cơn đại hạn ”. Nguyễn Đoá và Nguyễn Đạt Nhơn trong tập sách mỏng Địa dư tỉnh Quảng Ngãi(Nxb Viễn Đệ, Huế, 1939) có chép vào thời điểm ấy xe nước ở Quảng Ngãi có 90 chiếc: “Nhờ xe nước mà những năm hạn hán, mùa màng ở Quảng Ngãi đỡ bị thiệt hại”.
Theo số liệu của Phạm Trung Việt, tác giả Non nước xứ Quảng(Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1970), thì thời điểm 1960, tỉnh Quảng Ngãi có 112 xe nước, số ruộng đất tưới được là 4.500 mẫu [mẫu Trung bộ gần bằng 1/2 ha], sản xuất ra 5.000 tấn lúa trong vụ mùa tháng 8. Cũng cần nói thêm trong các thư tịch về xe nước, người ta đã tìm thấy nhiều văn bản cổ có giá trị sử liệu. Đặc biệt trong công trình của mình, P. Guilleminet đã in cả những lá đơn chữ Hán từ thời vua Thái Đức, vua Cảnh Thịnh với nội dung xin miễn xâu, miễn đi lính cho vài chục người thợ xe, laị có một công văn của chính quyền Tây Sơn hạch hỏi tại sao không dựng bờ xe để đồng điền bị tiêu khô. Trong bản ghi chép về gia đình của mình, phó bảng Nguyễn Bá Nghi, người làng Lạc Phố, huyện Mộ Hoa [Mộ Đức] cũng có chép về thân phụ là ông Nguyễn Hữu Thể là một bại tướng của Tây Sơn, đến đời Nguyễn về làm Tri thủ (Lý trưởng) làng Lạc Phố, có làm nhiều thơ Nôm, một trong những bài thơ ấy là Văn tế người thợ xe nước. Tác giả Lê Văn Quát cho rằng “khoảng 10 năm sau 1790, hệ thống bờ xe nước hai bờ sông Vệ đã căn bản hoàn thành” (4). Xe nước ở Quảng Ngãi cũng thỉnh thoảng được đề cập đây đó trong thư tịch đời Nguyễn. Chẳng hạn, trong tác phẩm của Nguyễn Thông, người ta thấy trong bài Trần thuỷ lợi tài thụ nghi sớ(Sớ trình bày công việc thuỷ lợi và trồng cây) đề ngày 28 tháng 2 năm Tự Đức thứ 23 [1870] có đề cập việc xin miễn thuế guồng xe nước cho các thôn bên sông Vệ (5). Năm 1879, vua Tự Đức còn quyết định cho xã Bồ Đề vay 350 quan tiền kẽm để làm guồng xe nước (6). Đến thời Pháp thuộc, ngoài các quan chức Pháp dẫn ở trên, còn có thể kể nhiều người khác cũng rất chú ý đến xe nước ở Quảng Ngãi, như Braemer, Dodey, Enjolras…
Trong một dịp tình cờ, chúng tôi về làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi và phát hiện ra một văn bản quan trọng đề cập đến gốc tích của các guồng xe nước ở Quảng Ngãi. Đó là tộc phổ họ Nguyễn, trong đó có một bản văn chữ Hán - Nôm ở trang đầu (xem nguyên văn).
Phiên âm:
Văn Ngói (?) Nguyên tiền vãn trú Bình Định tỉnh Hoài Nhơn phủ, phối hợp dữ quý tỉnh nhân Lê Thị Biện sinh hoạch Nguyễn Văn Tương. Văn Ngói hồi lai bản tỉnh, tái thù Thị Ngôn vi thê, điều trần tiền hữu thê tử tại Bình Định tỉnh, ư thị Thị Ngôn thân vãng biến phỏng hạnh đắc Văn Tương mẫu tử, khẩn khất nghinh hồi, Thị biện khất lưu tại quán, mặc hứa Văn Tương tung hồi Thị Ngôn tái nhãn xa thuỷ hữu lợi nông công, nãi thỉnh xa tượng phản hồi cấu lập xa thuỷ, quyết hậu nhân nhân sư pháp tại tại hữu chi.
Thị Ngôn ký xa pháp chi tỵ thai dư đản thời nhân tương thuật cấu tác bất tri nguyên uỷ hà dị thuyên đề giả hồ, kỳ sơ tạo xa thuỷ tam bạn hãn thủy trướng lạm, chú hạ tự Bồ Đề xã, Phú Lộc, Văn Bân, Năng An, Long Phụng, Đông Dương, lục xã thôn canh giá. Mỗi niên nạp tá xa tiền nhất quan nhu khai xa cụ tái hứa. Bản xã xa nhất bạn, Thị Kiểu nhất bạn, dĩ quân kỳ lợi y!
Sáng nghiệp nan thủ thành bất dị, như chi hà kỳ khả dã.
Tạm dịch:
Trước kia Văn Ngói (chưa rõ có phải chữ Ngói hay không) (7)đến cư ngụ ở phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, lấy vợ người tỉnh này là Lê Thị Biện, sinh ra Nguyễn Văn Tương. Văn Ngói quay về tỉnh nhà, lại cưới bà Ngôn làm vợ, nói rõ trước mình đã có vợ con ở tỉnh Bình Định. Từ đó bà Ngôn mới đích thân đi tìm hỏi, may gặp được mẹ con Văn Tương, tha thiết mời về đoàn tụ. Bà Biện xin được ở lại quê, ngầm hứa cho Văn Tương theo bà Ngôn về, xem lại xe nước đem lợi ích cho công việc nhà nông, lại rước thợ xe trở về xây dựng xe nước, từ đó về sau người ta sử dụng phương pháp xe nước ấy, nơi nơi đều có.
Phương pháp làm xe nước của bà Ngôn chính là khuôn mẫu đầu tiên. Song người ta đều cho rằng trong cấu trúc một bờ xe nước, cái “thuyên đề” không hiểu sao lại khó thế.
Ban đầu dựng ba bờ xe nước, đưa nước lên cao dẫn về 6 xã thôn, từ xã Bồ Đề đến các thôn Phú Lộc, Văn Bân, Năng An, Long Phụng, Đông Dương để canh tác. Mỗi năm nộp 100 quan tiền thuê xe - cần phải chuẩn bị vật liệu, dụng cụ tiếp tục làm cho mỗi xá một bờ, và một bờ của bà Kiểu, là đồng đều quyền lợi rồi.
Mở đầu cơ nghiệp đã khó, duy trì cơ nghiệp ấy cũng thật không dễ dàng gì, như việc làm bờ xe nước này vậy.
Điều trước tiên xin nói rằng, người cung cấp bản tộc phổ họ Nguyễn cho chúng tôi là ông Nguyễn Mùi, năm nay 76 tuổi, là hậu duệ đời thứ 11 của ông Nguyễn Văn Ngói. Ông cũng như dòng tộc chỉ biết đại khái rằng xe nước được ghi chép trong sách vở nhưng không biết cụ thể ra sao. Bản văn trên viết bằng chữ Hán pha chữ Nôm trong tộc phả từ lâu đời, đến vài chục năm trước đây bản tộc phả có nguy cơ bị nát, tộc họ mới nhờ người trong họ là ông Nguyễn Hào (năm nay trên 100 tuổi, còn sống) sao ra 5 bản, phiên sẵn bằng Quốc ngữ và cả bản văn về dựng đặt xe nước kẹp ngay với phổ hệ của dòng họ. Nếu người chưa tiếp xúc với các tư liệu, công trình nghiên cứu về xe nước (như đã kể sơ lược ở trên), và không đọc tộc phổ, thì có nhiều điểm tối nghĩa hoặc chưa rõ ràng. Chẳng hạn như rốt cuộc thì bà Biện hay bà Ngôn là người tổ chức du nhập xe nước đến Quảng Ngãi? Văn Tương có vai trò gì trong cấu tạo xe nước? Tại sao đang nói dựng xe nước cho xã hội lại nói quay sang Thị Kiểu? Thị Kiểu là ai?
Không phải tất cả đều khúc chiết, sáng rõ, nhưng qua tộc phổ và các tài liệu đã xuất bản chúng tôi tin rằng bản văn mang tính chân thực và không hề có một chút gì đáng ngờ là nguỵ tạo. Tuy nhiên, chừng như bản văn quá vắn tắt và chắc không khỏi có tình trạng “tam sao thất bản” nên không thấy lô-gích, cần phối kiểm với các tài liệu khác.
Trong bản văn chỉ ghi là Văn Ngói. Tra trong phả hệ họ Nguyễn tôi phát hiện ra một điều quan trọng “Ông Diệm Nguyễn Văn Ngói”, như vậy ông Diệm là tên tục của Nguyễn Văn Ngói, người đi vào tỉnh Bình Định và lấy bà Lê Thị Biện như bản văn đã ghi chép. Ông Diệm Nguyễn Văn Ngói trú ở Bồ Đề xã, là con trai của “ông Định Nguyễn Văn Trạch” vốn người làng An Ba [nay thuộc xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành]. Đối chiếu với công trình của P. Guilleminet (đã dẫn) thấy có một sự trùng khớp rất rõ khi ông viết: “Chính chồng lão Diệm, hay chính xác là mụ Diệm là người có vinh dự đã đem các guồng nước từ Bình Định sang Quảng Ngãi. Năm 1754, gia đình này đã có 6 guồng nước, hai guồng ở Thượng Tân, hai ở Thổ Kỳ, hai ở Viên Nguyệt. Các làng Bồ Đề, Phú Lộc, Hoa Bân [sau đổi là Văn Bân], Đông Dương, Viên An [Năng An] và Long Phụng đều được tưới nước”. Nếu chỉ xem công trình của P. Guilleminet, ta không biết lão Diệm là ai, và ta chưa tin lắm với nhận định của ông, nhưng qua văn bản của gia phả, biết rõ đó là Nguyễn Văn Ngói và thấy rõ nhận định kia là có cơ sở thực tế. Ông Nguyễn Mùi cắt nghĩa, ông Ngói vào phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định là đi làm thợ, tìm kế sinh nhai, rồi mới gặp bà Biện ở đó. Ở Hoài Nhơn, chính xác hơn là vùng tây phủ Hoài Nhơn (tức huyện Hoài Ân hiện nay) vốn có rất nhiều xe nước trên sông Lại (8). Như vậy xe nước đã du nhập từ sông Lại ra sông Vệ. Còn năm nào dựng xe nước đầu tiên? P. Guilleminet ghi rằng: “… trong vùng Trung Trung kỳ, tôi thấy những guồng nước xưa nhất là ở Bình Định là nơi làm giới hạn phía nam của khu vực có sử dụng nguồn nước … do khoảng năm 1740 các guồng nước xâm nhập vào Quảng Ngãi và lên mãi tận làng Bồ Đề. Năm 1835, các guồng nước được lắp đặt trên sông Trà Khúc, vùng Phước Lộc và chỉ từ năm 1900 trở đi chúng mới lan đến vùng Quảng Nam”.
Ai có công đưa guồng xe nước từ Bình Định du nhập ra Quảng Ngãi? Theo như văn bản ở trên, thì có vẻ như bà Trần Thị Ngôn, tất nhiên có sự giúp sức của Nguyễn Văn Tương. Có điều lạ là trong bản văn gia phả ghi rõ bà Biện là chánh thất của ông Nguyễn Văn Ngói, nhưng người được gọi là “mụ Diệm” lại là bà kế thất Trần Thị Ngôn. Chính ở đây hình như tộc phổ có sự sai lệch, do “tam sao thất bản”. Nếu một người chưa biết gì về xe nước, làm sao lại có khả năng đưa xe nước du nhập về quê? Ông Nguyễn Mùi quả quyết rằng tạo dựng xe nước chính là bà “quê tỉnh Bình Định”. Ông kể rằng khi bà về quê chồng, thấy ruộng đồng ở đây khô khốc, chỉ cấy được lúa trì trì, ở những khoảng ruộng trũng, bà móc đất xem thử, khảo sát địa hình, mới xin quay về tỉnh Bình Định thuê cả ê-kip thợ xe ra dựng đặt. Theo như ông Mùi kể thì bà vốn nhà khá giả, tậu được khá nhiều đất ở vùng Đồng Giàng (mà văn bản gọi là Thượng Tân) là nơi có thế đất phù hợp để dựng bờ xe và mương nước có thể dẫn đi xa. Bà lại phải làm đơn xin quan phủ cho mở kênh mương nước qua các xã khác. Ban đầu bà tổ chức dựng đặt 2 xe nước, một xe 4 bánh, một xe 3 bánh. Bờ xe 3 bánh gọi là bờ cản thuỷ, vì ngoài việc đưa nước lên đồng ruộng, còn có tác dụng cản cho nước dâng cao tự chảy vào dòng kênh 6 xã do bà tổ chức đào đắp (sau này thời kháng chiến chống Pháp, ta tổ chức vét, củng cổ, đưa miệng kênh lên cao hơn và gọi là kênh Tứ Đức, nay vẫn còn). Có nước, đồng ruộng có 6 xã trở nên tươi tốt, người dân bớt cảnh đói khổ nên rất nhớ ơn bà. Ông Mùi dẫn tôi đến xem miếu nhỏ thờ bà, nơi mà trước năm 1945, dân 6 xã ăn xe nước có lệ đội heo và các thức cúng lên cúng bà trước khi khai mở xe nước. Trong 6 xã có lệ, riêng xã Bồ Đề khỏi phải vét mương vì đã cho mương đi trên vùng đất của mình.Ngày 16 tháng 3 âm lịch hằng năm là ngày giỗ bà, gia tộc đã trí 1 mẫu 2 đất để cúng, ngả bò, heo chiêu đãi bà con cả làng. Tại nhà vẫn còn thần chủ, nhưng đã mọt ăn, mất hết chữ không đọc được. Ông Nguyễn Mùi còn cho biết thời Pháp thuộc, triều đình Huế đã có sắc phong truy tặng cho bà nội tổ của ông, nhưng gia tộc xét thấy phải tốn kém khá nhiều, nên đã không rước sắc về. Quan sứ Pháp tỏ ra khâm phục tài năng của bà đã tặng cho một chiếc khám thờ, nay vẫn còn. Phả lệ ở đây lấy tên là “Gia phổ ngũ phái Nguyễn tộc Bồ Đề” nghĩa là dòng họ ở đây có 5 phái, là 5 người con trai của Nguyễn Văn Ngói, Gia phổ ghi, một trai là Nguyễn Văn Tương (con bà Lê Thị Biện), kế đến là Nguyễn Văn Dỗng, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Văn Cò (con bà Trần Thị Ngôn). Có một người con gái tên là Nguyễn Thị Kiểu. Chỉ có Nguyễn Văn Thanh không thấy ghi tiếp, có lẽ mất sớm hoặc tuyệt tự, nên nếu trừ ông ra thì ông Ngói có đúng 5 người con trai. P. Guilleminet viết: “Mụ Diệm có nhiều cháu chắt chia nhau khai thác các guồng nước mà không phải không có lúc cãi cọ nhau”. Hẳn đó là lý do khiến bản văn trong gía phổ có ghi “mỗi xã làm một bờ, và một bờ của bà Kiểu, là đồng đều quyền lợi rồi”. Đối chiếu với phả hệ, có ghi Nguyễn Thị Kiểu là con gái. Như vậy rất có thể khi về già, “mụ Diệm” đã chuyển giao dần các xe nước cho những người con trai, cuối cùng giao nốt bờ xe nước còn lại cho người con gái tên là Kiểu chăng?
Một điều cũng đáng lưu ý nữa là trong phổ hệ không thấy có ghi người nào có tên là Lão Thêm. Xin nhắc lại rằng các công trình nghiên cứu thường nói đến “Lão Thêm” người làng Bồ Đề, từng đứng tên xin vua Thái Đức Nguyễn Nhạc miễn dịch cho 20 thợ xe nước của làng, thậm chí có người còn tự hỏi phải chăng Lão Thêm chính là người “sáng chế” xe nước. Đối chiếu với sách của P. Guilleminet, thấy có chép: “Gia đình lão Diệm đã tâu lên đức vua và đã xin cho gia đình và các thợ trọn (tổng cộng chừng 20 người) được miễn phu dịch và lời tâu được chấp thuận dưới triều nhà Lê [nói đúng ra là chúa Nguyễn]. Năm 1790, một lần nữa tâu lên vua Thái Đức đã được hưởng đặc ân ấy”. Như vậy, Lão Thêm không đâu xa, có thể con hoặc cháu nội của “mụ Diệm”. Đối chiếu trong tộc phổ, trong hàng con (đã kể trên) không có ai có tên tục là Lão Thêm. Ở hàng cháu cũng không. Chỉ có cháu nội Nguyễn Văn Tương có tên là Lão Phê Nguyễn Văn Khiêu. Có thể đó chính là lão Thêm mà do sự sao chép nhiều lần đã bị sai lệch chăng?
Tóm lại, tuy có những điều chưa thật rõ, nhưng sự phát hiện bản văn trong phổ hệ họ Nguyễn làng Bồ Đề là một cứ liệu quan trọng, cho phép khẳng định:
Gốc tích những guồng xe nước rất nổi tiếng ở Quảng Ngãi trước đây là tỉnh Bình Định, cụ thể là từ sông Lại thuộc phủ Hoài Nhơn.
Xe nước đầu tiên trong tỉnh Quảng Ngãi được dựng đặt ở xã Bồ Đề, huyện Mộ Hoa [sau đổi là Mộ Đức] vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, dần dần phổ biến trên sông Vệ, sau đó một thời gian mới lan rộng Trà Khúc.
_______________
(1) Tất cả các chữ trong [] là do tác giả bài này thêm vào cho rõ nghĩa.
(2) A.Laborde - Province de Quảng Ngãi(tỉnh Quảng Ngãi). Hà Xuân Liêm dịch, in trong tập Những người bạn cố đô Huế, tập XII (năm 1925). NXB Thuận Hoá, Huế, 2002.
(3) P.Guilleminet - Une. Industrie Annamite: Les Norias du Quảng Ngãi. Nguyên văn tiếng Pháp. Bản dịch của Đỗ Hữu Thạnh - Hà Xuân Liêm, in trong tập những người bạn cố đô Huế, tập XII (1926). NXB Thuận Hoá, Huế, 2004.
(4) Lê Văn Quát - Bờ xe nước Quảng Ngãi- tạp chí Cẩm Thànhsố 25, tháng 11 năm 2000.
(5) Cao Tự Thanh - Đoàn Lê Giang - tác phẩm Nguyễn Thông. Sở VHTT Long An, 1984.
(6) Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam thực lục chính biên, đệ tứ kỷ XIII. Tập XXXIV. Tổ biên dịch Viện Sử học dịch. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1976.
(7) Bản văn chữ Nôm trong tộc họ phổ ghi ông Nguyễn Hào trong dòng họ phiên ra Quốc ngữ là Ngói, chưa tra được có phải đúng là Ngói không.
(8) P. Guilleminet (Sách đã dẫn) ghi rằng ở tỉnh Bình Định trên sông Lại Giang có chừng 70 guồng nước và trên sông An Lão còn nhiều hơn nữa, đường kính trung bình 6 đến 8 mét, một số guồng khác đường kính 2 mét, guồng nước trên sông Phú Phong thường chỉ có 1 bánh, cũng có cái 2, 3 bánh.








