Xây dựng văn hóa chất lượng trong môi trường giáo dục
1. Chất lượng giáo dục (GD) phản ánh bản chất cốt lõi của GD và vấn đề chất lượng cũng đang là thách thức đối với các nhà quản lý GD. Tuy nhiên, vấn đề nâng cao chất lượng mới được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách. Từ năm 2004 đến nay, đã có rất nhiều văn bản của chính phủ, của bộ GD-ĐT với những hướng dẫn cụ thể về công tác đảm bảo và kiểm định chất lượng theo mô hình nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Tuy nghiên, trong quá trình thực hiện, không ít cơ sở GD còn gặp khó khăn, thách thức, cả chủ quan và khách quan.
Để việc công khai chất lượng ở các cơ sở trở thành việc làm thường xuyên, tự giác, chính xác, công khai, công bằng. buộc phải xây dựng một nền văn hóa chất lượng mang tính nhất quán. Đó là,: làm cho mọi người hiểu ý nghĩa của việc cần làm, làm đúng ngay từ đầu, đúng ở mọi thời điểm; mọi hoạt động nhà trường đều hướng tới chất lượng, vì chất lượng; thực hiện quy trình công khai, dân chủ (giáo viên được góp ý, đánh giá hiệu trưởng; học sinh, sinh viên (HS, SV) được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy, góp ý xây dựng nhà trường). Ngoài ra, cần tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư của xã hội. Theo quan điểm này, một trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín; có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; có chất lượng đầu vào HS, SV cao; tạo sản phẩm (đầu ra) hoàn thiện… chính là trường có nền tảng văn hóa chất lượng (VHCL). Nhìn rộng hơn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, thì VHCL phải luôn hướng đến sự phát triển của cộng đồng, tạo hiệu quả về GD nhân cách, hiểu biết xã hội, kỹ năng sống cho HS, SV.
2. Văn hóa chất lượng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về VHCL (1). VHCL nói tới hiệu quả tích cực của các giá trị văn hóa. Ở bài viết này, VHCL được hiểu là tập hợp những thói quen, niềm tin và hành vi liên quan đến chất lượng mà các thành viên trong tổ chức cùng chia sẻ; được phát triển trong các hoạt động quản lí chất lượng liên tục, thường xuyên, ngắn hạn và dài hạn của đơn vị nhằm tạo ra một “môi trường chất lượng”. Ngoài ra, VHCL còn được hiểu là sự tham gia rộng rãi của người học và người dạy trong các hoạt động có liên quan đến chất lượng; cũng bao hàm các quy trình và công cụ nhằm xây dựng hệ thống quản lí chất lượng mang nét đặc trưng riêng của tổ chức.
Như vậy, hình thành và phát triển VHCL vừa có tính chất tự nhiên, vừa có thể xây dựng một cách có chủ đích, có kế hoạch, có mốc đánh giá để thay đổi và tạo ra các giá trị mới trong xây dựng VHCL. Cần tổ chức và thực hiện các hoạt động chất lượng sao cho tạo nên niềm tin, hành vi và thói quen liên quan đến chất lượng trong đơn vị.
Mục tiêu của VHCL là giúp mọi người thấu hiểu ý nghĩa của những viêc cần làm và cố gắng làm mọi việc đúng ngay từ đầu và đúng vào mọi thời điểm, điều này phù hợp với bản chất của quản lí chất lượng tổng thể. Xây dựng được VHCL đồng nghĩa với việc mọi thành viên, mọi tổ chức đều biết công việc của mình theo kế hoạch sẽ được cải tiến và nâng cao chất lượng như thế nào; đều tham gia thực hiện mục tiêu kế hoạch với tinh thần chủ động và tự giác; đồng thời, tham gia đầy đủ vào quá trình xây dựng hệ thống quản lí chất lượng, hướng tới khách hàng.
Với quan niệm trên, VHCL của một cơ sở đào tạo được hiểu là: tập hợp những thói quen, niềm tin và hành vi liên quan đến chất lượng mà các thành viên (cán bộ lãnh đạo, giảng viên, nhân viên, HS, SV) cùng chia sẻ; được phát triển trong các hoạt động quản lí chất lượng liên tục, thường xuyên, ngắn hạn và dài hạn của cơ sở đào tạo nhằm tạo ra một “môi trường chất lượng”. Mọi thành viên (từ người học đến cán bộ quản lí), mọi tổ chức (từ các phòng, ban đến các tổ chức đoàn thể) đều biết công việc của mình thế nào là có chất lượng và đều làm theo yêu cầu chất lượng ấy.
3. Xây dựng và phát triển VHCL trong nhà trường
Ở nước ta hiện nay, khái niệm VHCL còn khá mới. Ơ đây, chúng tôi quan niệm rằng VHCL cần được hiểu theo cách tích hợp giữa “chất lượng” và “văn hóa”. Vì vậy, VHCL được hình dung như việc tạo dựng môi trường bền vững việc hình thành “mục tiêu”, công cụ và phương pháp thực hiện và đạt được mục tiêu. Muốn xây dựng được VHCL, chúng ta cần thay đổi cách thức hoạt động để đạt được mục tiêu và phù hợp với mục tiêu trở thành điểm đặc trưng của nơi chúng ta đang làm việc. Công cụ chủ yếu của các nhà lãnh đạo, quản lí nhằm có được VHCL là phải thay đổi tư duy và giá trị ở tất cả các cấp theo hướng cải tiến chất lượng. Đó là vì quy trình xây dựng VHCL thường được bắt đầu khi các nhà quản lí hiểu được giá trị chất lượng trên quan điểm hệ thống, tin tưởng vào khả năng ứng dụng của các giá trị đó. Đề cập tới VHCL, phải luôn xuất phát từ các khái niệm riêng rẽ nền tảng như: đánh giá, đánh giá chất lượng, đánh giá đồng nghiệp, tự đánh giá, đánh giá ngoài, đánh giá trong đào tạo… Dưới đây xin giới thiệu sơ qua quy trình xây dựng, phát triển và các hoạt động để hướng tới VHCL.
1) Quy trình xây dựng và phát triển VHCL của cơ sở GD: -Đánh giá tình hình: mục tiêu chất lượng, các nhiệm vụ và kết quả thực hiện của nhà trường/đơn vị; - Đánh giá lại các giá trị VHCL hiện tại và xác định các niềm tin mong muốn tương lai; - So sánh và xác định nhu cầu phát triển VHCL (khoảng cách giữa mục tiêu và thực trạng); - Xác định lại các giá trị VHCL phù hợp với tổ chức; - Thực hiện các hành động thay đổi.
2) Hoạt động cần thực hiện để xây dựng và phát triển VHCL: -Nâng cao nhận thức về chất lượng, đảm bảo chất lượng, quản lí chất lượng và VHCL trong nhà trường; - Xây dựng hoặc thường xuyên xem xét đánh giá và điều chỉnh mục tiêu chất lượng , các quy trình, thủ tục.. cho phù hợp với thực tế, đặc biệt là nguồn lực của nhà trường; - Bồi dưỡng các kĩ năng hoạt động chất lượng cho các thành viên trong nhà trường/đơn vị, đặc biệt chú trọng vào các thành viên mới; - Xây dựng các hệ thống đánh giá và công nhận sự nỗ lực về chất lượng.
***
Khi đảm bảo chất lượng được xem như một hệ thống quản lí (được đặt vào tay những người có trách nhiệm trong nhà trường) và vấn đề được đặt ra là hệ thống quản lí đó có phải chịu sự kiểm soát từ bên ngoài giúp các trường đảm bảo quá trình đó là công bằng và khách quan. Qua đây cho thấy, mối quan tâm về cơ chế có tính tự chịu trách nhiệm nhằm cải tiến khả năng đảm bảo chất lượng chuyên môn của các trường là rất quan trọng, để việc hướng tới VHCL của nhà trường ngày càng có hiệu quả hơn./.
(1) Bộ GD-ĐT. Tài liệu tập huấn “ Nâng cao năng lực đảm bảo chất lượng và văn hóa chất lượng giáo dục đại học”. TP. Hồ Chí Minh. 2009.
Tài liệu tham khảo
1. Trần Khánh Đức. “Đo lường và đánh giá trong giáo dục” trong cuốn Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực thế kỉ XXI.NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2010.
2. Nguyễn Kim Dung – Huỳnh Xuân Nhựt. “Các khái niệm chất lượng, văn hóa chất lượng, đánh giá, đảm bảo và kiểm định chất lượng trong giáo dục”. Viện nghiên cứu giáo dục – Trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh.
3. Bộ DG-ĐT. Các quy định về quy trình và chu kì kiểm định chất lượng các loại hình nhà trường (tiểu học, trung học phổ thông, đại học). H. 2008.
Quan niệm của học sinh…
(tiếp trang 24)
Các hoạt động, sinh hoạt tập thể phong phú, hấp dẫn ở trường học để HS được trải nghiệm và có kinh nghiệm ứng sử với bạn; - Có thể xây dựng mô hình Phòng tâm lí học đườngtrong các trường họăc cụm trường theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục để trợ giúp, giáo dục tình bạn góp phần giáo dục nhân cách toàn diện cho HS./.
Tài liệu tham khảo
1. I.X.Con. Tâm lí học tình bạn của tuổi trẻ.NXB. Thanh niên. H 1982.
2. John Dacey – Maureen Kenny. Adolescent Development.Brown & Benchamark. London , 2000.
3. Gullotta. Thomas P..Adám Gerald R. Handbook of Adolescent Behavioral Problém (eds): USA Springer 2005.
4. Lục Thị Nga. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở.NXB. Giáo dục Việt Nam . H 2010./.









