Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 20/02/2008 16:11 (GMT+7)

Việt Nam cần nhìn xa hơn về kinh tế biển

Nguyễn Hữu Thanh tốt nghiệp đại học năm 1986 và vào làm việc tại một công ty chế biến thuỷ sản Nhà nước. Sau 11 năm vượt qua vô số những trở ngại về thủ tục hành chính, ông vay được một khoản tiền và mở một công ty thuỷ sản tư nhân có tên Viet Foods để xuất khẩu hàng sang thị trường Nhật Bản.

Trong năm hoạt động đầu tiên, năm 2000, Viet Foods đạt kim ngạch xuất khẩu 5 triệu USD. Tới năm 2006, Viet Foods đã cung cấp gần 40% lượng tôm dùng cho món sushi tại Nhật Bản, thu về kim ngạch 63 triệu USD, tạo việc làm cho 3.300 công nhân.

Cách Hải Phòng 1.000 km, Nhà máy đóng tàu Nam Triệu một thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) đang hoàn tất nốt những chi tiết cuối cùng của một con tàu nữa, có tải trọng 53.000 tấn theo hợp đồng với Công ty Graig Shipping của Vương quốc Anh. Vinashin đạt doanh thu 718 triệu USD trong năm 2006 và cho biết, hiện đang có số đơn đặt hàng trị giá khoảng 10 tỷ USD.

Thuỷ sản và tàu biển là trọng tâm trong chiến lược kinh tế biển của Việt Nam . Đây là một ý tưởng được đưa ra trong “Chiến lược biển đến năm 2020” của Chính phủ Việt Nam . Khai thác dầu khí ngoài khơi và phát triển du lịch trên các bãi biển là những biện pháp bổ sung mà Việt Nam hy vọng sẽ khai thác tối đa tuyến bờ biển dài 3.200 km và các nguồn tài nguyên biển của mình.

Chính phủ nước này hy vọng tới năm 2020 thủy sản, tàu biển, vận tải biển, dầu khí, du lịch và các dịch vụ có liên quan sẽ chiếm hơn một nửa GDP so với mức 15% vào năm 2005.

Nhu cầu của thế giới đối với thuỷ sản nuôi trồng và những con tàu có tải trọng lớn đang trên đà tăng. Các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch dự báo, đến năm 2010, sẽ có tới 50 triệu người Trung Quốc và tới năm 2020, con số này sẽ là 100 triệu người. Nhiều người trong số này sẽ tới các khu nghỉ mát ven biển và các sân golf mới của Việt Nam cùng với du khách Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.

Ngoài ra, kinh tế biển cũng mang ý nghĩa biểu tượng. Việt Nam từng tiến hành một cuộc cách mạng trên những cánh đồng lúa của đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long. Giờ đây, nước này đang hướng ra biển, tiếp tục thúc đẩy một quá trình được bắt đầu với việc cải cách doanh nghiệp vào năm 1989, tiếp đó là quyền tiếp cận thị trường châu Âu vào năm 1995 và cột mốc BTA với Hoa Kỳ vào năm 2001. Việc gia nhập WTO vào năm 2007 là đỉnh cao của quá trình đổi mới ở Việt Nam .

Nhờ quá trình này, từ chỗ là một nước thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới từ năm 1996 và một nước xuất khẩu hàng đầu các mặt hàng cà phê, thuỷ sản, hạt tiêu, hạt điều, cao su cũng như hang may mặc và giày dép.

Mô hình “bình thông nhau”

Những thành tựu kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới thật ấn tượng. Tăng trưởng GDP hàng năm bình quân ở mức 7% trong vòng 20 năm, trong khi tăng trưởng xuất khẩu hàng năm đạt trên 20%. Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 40 tỷ USD trong năm 2006, tương đương 65% GDP, cao hơn gấp đôi so với con số của thập kỷ trước.

Xuất khẩu đã trở thành đầu tàu cho sự tăng trưởng của Việt Nam theo mô hình kinh điển “bình thông nhau”, khi mà nhu cầu của thị trường bên ngoài đã thúc đẩy việc đưa lực lượng lao động và đất đai nhàn rỗi vào sản xuất. Các nhà sản xuất gạo, cà phê, thuỷ sản, giày dép và đồ gỗ đã tạo ra việc làm cho hàng triệu người. Trong số đó, có nhiều người không có nhiều kỹ năng lao động, hoặc là phụ nữ đến từ những vùng nông thôn đông dân của Việt Nam .

Tuy nhiên, nhiều nhà quan sát vẫn cho rằng, nền kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào nhân công giá rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy xuất khảu và tăng trưởng. Trong khi đó, nhân công rẻ không phải là một chiến lược phát triển có thể tồn tại trong dài hạn. Trên thực tế, lao động chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí sản xuất. Tính bình quân, lao động trực tiếp trong lĩnh vực hàng chế tạo xuất khẩu của các nước phát triển chỉ chiếm từ 3% đến 4% giá sản phẩm tại cảng và chưa đầy 1% giá bán lẻ của sản phẩm.

Đối với các nhà đầu tư, những chi phí khác, như điện, giao thông, viễn thông, an ninh, chi phí quản lý và tham nhũng cũng có vai trò quan trọng ngang bằng, nếu không nói là lớn hơn. Và một vài trong số những chi phí này ở Việt Nam cao hơn so với ở các nước khác. Theo công ty tư vấn quản lý A. T. Kearney, giá điện công nghiệp của Việt Namngang với ở Trung Quốc và Thái Lan và cao hơn so với ở Malayxia và Indonesia . Ngoài ra, chi phí vận tải biển, viễn thông và thuê văn phòng cao cấp ở Việt Nam là cao nhất trong nhóm nước này.

Một vấn đề khác đối với những hàng hoá “bình thông nhau” như gạo, thuỷ sản, hồ tiêu, may mặc và giày dép, những mặt hàng Việt Nam đang có sức cạnh tranh lớn là nhu cầu đối với những hàng hoá này không tăng với tốc độ tăng của thu nhập. Nói cách khác, khi người ta trở nên giàu có hơn, họ không có xu hướng mua thêm gạo hay cà phê bằng thu nhập có thêm của mình.

Trong khi đó, một trong những bí mật trong sự thành công của phát triển kinh tế Đông Á là việc đặt trọng tâm có chủ ý vào những mặt hàng có nhu cầu tăng tương đương với tốc độ tăng thu nhập như hàng điện tử cao cấp và ô tô, những mặt hàng đang chiếm phẩn mỗi lúc một tăng trong tổng chi tiêu ở nhiều khu vực trên thế giới như Bắc Mỹ và châu Âu.

Tuy vậy, ổn định chính trị, vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên dồi dào, thị trường nội địa tăng trưởng nhanh và vị trí thành viên WTO sẽ tiếp tục giúp Việt Nam là một địa điểm đầu tư hấp dẫn trong thời gian tới. Lượng vốn FDI ròng đổ vào Việt Nam trong năm 2006 là 2,3 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2005 và được dự báo là sẽ tiếp tục tăng trong năm nay.

Khi Việt Namtrở nên giàu hơn, Việt Nam sẽ phải giảm bớt tỷ trọng những mặt hàng thô và có hàm lượng nhập khẩu cao, đồng thời đẩy mạnh những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao với tiềm năng tăng trưởng lớn hơn. Phần lớn các doanh nghiệp hiện tại của Việt Nam còn nhỏ bé, mặc dù đã có một số doanh nghiệp nước ngoài lớn hoạt động trong lĩnh vực may mặc và da giày. Công nghệ đơn giản, lợi nhuận thấp và sản xuất vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu.

Những nước công nghiệp hoá thành công cuối cùng cũng phải vượt ra khỏi mô hình tăng trưởng “bình thông nhau”, khi các doanh nghiệp trong nước phát triển với quy mô và khả năng công nghệ đủ lớn để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về giá cả và chất lượng,

Ba ưu tiên mới?

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã bắt đầu thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao. Những công ty như Intel, Foxconn, Compal và Nidec đã tới Việt Nam . Công viên công nghệ cao TP HCM đã nổi lên như một trung tâm công nghệ, nơi gặp gỡ của các nhà đầu tư nước ngoài với các công ty trong nước và các cơ sở nghiên cứu và đào tạo.

Mục tiêu của Việt Nam là đi theo chiến lược của Đài Loan và Trung Quốc trong việc vượt ra khỏi hoạt động lắp ráp đơn thuần để tạo ra mối liên kết giữa các nhà đầu tư công nghệ cao nước ngoài với các nhà cung cấp trong nước.

Việc thực hiện chiến lược này sẽ đòi hỏi những thay đổi chính sách có tính chất quyết định đối với một loạt vấn đề từ quản lý kinh tế vĩ mô tới cải cách hệ thống luật pháp. Bởi vậy, có ba lĩnh vực mà các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam nên dành ưu tiên.

Ưu tiên thứ nhất là giáo dục trình độ cao. Các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ở Việt Nam vẫn thường coi việc thiếu lao động trình độ cao là trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và nâng cấp công nghệ. Việt Nam không thiếu nhân tài. Điều này được thể hiện bằng một loạt huy chương vàng của các thí sinh Việt Nam trong kỳ Olympic Toán quốc tế gần đây. Một đại diện của công ty Toyotatừng cho rằng, thời gian đào tạo công nhân Việt Nam là ngắn thứ hai trên thế giới.

Tuy nhiên, các trường đại học của Việt Nam lại chưa thành công trong việc đào tạo sinh viên trở thành những người lao động có kỹ năng ứng dụng tốt hoặc thực hiện được những nghiên cứu có tính kinh tế. Các trường đại học của Việt Nam có số lượng ấn phẩm thấp nhất trong số các tạp chí khoa học và công nghệ trong khu vực. Vào năm 2002, Việt Nam chỉ có 2 đơn xin cấp bằng sáng chế quốc tế. Không giống như ở Trung Quốc, các viện nghiên cứu khoa học ở Việt Nam có mối liên hệ rất hạn chế với doanh nghiệp.

Hạn chế trong giáo dục trình độ cao và nghiên cứu không chỉ đơn thuần là vấn đề tiền bạc. Mặc dù Trung Quốc chi một phần nhỏ hơn trong thu nhập quốc gia cho giáo dục so với Việt Nam , một số trường đại học vào hàng tốt nhất ở nước này đang tiến tới đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Các trường đại học ở Việt Nam vẫn đưa ra những chương trình học lỗi thời thông qua một hệ thống chưa mấy thay đổi kể từ thập niên 1980. Sẽ không có sự tiến bộ nào nếu các trường đại học và các viện nghiên cứu không được tự chủ trong việc cạnh tranh về chất lượng, danh tiếng để tồn tại.

Ưu tiên thứ hai là cơ sở hạ tầng. Việt Nam đã phải trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh nên cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế. Đường xá, cảng biển, sân bay, các nhà máy điện, hệ thống thuỷ lợi và cung cấp nước đều cần phải được cải thiện và xây dựng lại. Sự chậm trễ kinh niên và vượt chi phí trong các dự án công đã gây cản trở quá trình phát triển kinh tế.

Sau 20 năm đổi mới, Việt Nam vẫn chưa có cảng nước sâu có khả năng tiếp nhận các tàu container cỡ lớn, khiến chi phí vận tải tới Mỹ tăng thêm 28%. Tình trạng mất điện và tắc nghẽn giao thông là phổ biến ở các thành phố lớn. Việc xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam bắt đầu vào năm 1995 với dự toán chi phí là 1,3 tỷ USD, hiện được kỳ vọng sẽ hoàn thành vào năm 2009 với chi phí 2,5 tỷ USD.

Năm 2000, Chính phủ Việt Nam thông qua kế hoạch xây dựng 17 phòng thí nghiệm nghiên cứu cấp quốc gia mới đến năm 2005. Nhưng đến giữa năm 2007, mới chỉ có 2 phòng thí nghiệm trong số này đi vào hoạt động. Trong khi đó, Chính phủ lại thông qua kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc trị giá 33 tỷ USD, khiến người ta đặt ra nhiều câu hỏi về những ưu tiên trong lĩnh vực dự án công.

Ưu tiên thứ ba là thị trường vốn. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam phải vật lộn để tìm kiếm các nguồn tài chính dài hạn, các nhà đầu tư trong nước lại đổ xô tới thị trường bất động sản và chứng khoán. Sau tháng 8 - 2006, chỉ số Vn - Index của thị trường chứng khoán Việt Nam đã gần tăng gấp 3 lần trước khi giảm 20% trong nhừng tháng gần đây. Tuy vậy, giá cổ phiếu đôi khi đã bị tách khỏi hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong khi nhiều người cho rằng thị trường có thể bị điều khiển bởi các thoả thuận tay trong và dẫn dắt thông tin.

Một nghiên cứu của UNDP cho thấy, nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang đầu tư lớn vào bất động sản và thị trường chứng khoán với hy vọng thu lời nhanh. Sự hình thành bong bóng tài sản cùng với các hạn chế tín dụng đối với doanh nghiệp là một dấu hiệu rõ ràng về việc thị trường vốn đang không thực hiện đúng chức năng ban đầu của nó là huy động nguồn vốn tiết kiệm trong nước và dẫn vốn cho các hoạt động đầu tư mới.

Trong khi các ngân hàng trả lãi xuất thực tế ở mức âm cho người gửi tiền trong nước, các công ty như Vinashin lại mỗi ngày thêm phụ thuộc vào các nguồn vốn vay nước ngoài để đầu tư cho các dự án mở rộng. Những khoản nợ bằng đồng đôla không được phòng hộ không chỉ là một mối hiểm nguy đối với các công ty đi vay mà còn cản trở sự giảm giá của đồng tiền nội địa, gây bất lợi cho các nhà xuất khẩu.

Các đồng tác giả của bài viết này là ông Penrose - một nhà tư vấn độc lập hoạt động tại Hà Nội, ông Pincus - chuyên gia kinh tế trưởng của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, ông Cheshier - đang theo học tiến sĩ tại trường Kinh doanh và Quản lý, Đại học Queen Mary tạ London.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.