Vị thuốc từ me
Me còn gọi là khua me, la vọng tư; Tamarindus L, thuộc họ Vang. Me được trồng từ hạt me chín, mọc hoang ở rừng núi.
Me được dùng từ trái me tươi hoặc nghiền nát lấy phần cơm từ quả rồi chế thành thuốc. vỏ và lá cây me vẫn sử dụng tươi làm thuôc.
Theo đông y, me có vị chua, tính mát, thanh nhiệt, giải khát, tăng cường tiêu hoá. Ngoài tác dụng chống nôn oẹ ở phụ nữ thai nghén, me còn được dùng chữa sốt cao có nguyên nhân hay chưa có nguyên nhân.
Cách làm như sau: Me nghiền nát quả, lọc bỏ xơ, lấy 50g cơm, 50g nước và 125g đường. Đun sôi bằng lửa than như rim mứt còn lại 200g (có thể đem sấy khô cơm me để dành), lấy 30g cơm me pha với nước sôi để nguội uống. Cơm me rất tốt cho chữa bệnh về gan (rối loạn chức năng gan, men gan); rối loạn tiêu hoá thể táo (rất tốt trong điều trị nhuận tràng), thông lợi tiểu rắt, tiểu buốt, trong nước tiểu qua xét nghiệm có nhiều chất cặn, lắng axit uric, oxalat…
Vỏ cây me dùng để chữa lỵ: Dùng nước vỏ cây me (giã nhỏ lọc sạch) súc miệng chữa viêm lợi, chân răng (viêm nha chu), chữa tiêu chảy.
Lá me vò nát, nấu nước tắm trị ghẻ, phòng các bệnh ngoài ra, xoa lên nơi dị ứng ngứa.
Liều lượng sử dụng: Người lớn từ 20-120g cơm me, thêm đường để uống; Trẻ em 10-12 tuổi dùng 10-20g cơm me.
Đơn thuốc có me: Me giã nát, lọc bỏ xơ và hạt, đổ si rô đặc vào đun sôi. Mỗi ngày dùng 15-20g. Ngoài ra, 30g cơm me cho vào nước uống rất tốt có thể thay viên vitamin C (Nervon C), uống thường xuyên tăng cường miễn dịch tăng sức đề kháng tốt cho cơ thể.








