Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 21/02/2012 19:20 (GMT+7)

Về việc ứng dụng cây trồng biến đổi gien ở nước ta

CTBÐG, theo các chuyên gia sinh học quốc tế là loại cây trồng được chuyển gien lạ hữu ích bằng kỹ thuật di truyền. Gien lạ có ích này được tách chiết từ một sinh vật, hoặc được tổng hợp và đưa vào tế bào cây trồng bằng phương pháp chuyển gien trực tiếp hay gián tiếp để có được đặc tính theo mong muốn (như kháng sâu bệnh, chống chịu thuốc diệt cỏ...). CTBÐG được các nước phát triển như Mỹ, và một số nước châu Âu nghiên cứu, ứng dụng từ cuối những năm 80, và được thương mại hóa giữa các năm 90 của thế kỷ trước. Ðến nay, đã có gần 30 quốc gia (phần lớn ở khu vực Bắc Mỹ, Tây Âu) triển khai sản xuất CTBÐG. Cuối năm 2010, diện tích CTBÐG trên thế giới đã lên gần 150 triệu ha, trong đó các sản phẩm chủ yếu là đậu tương (chiếm 51,7%) ngô (hơn 30%), bông (hơn 9%), sau đó là cải dầu, khoai tây. Tại châu Á, các nước như Ấn Ðộ, Trung Quốc, Pa-ki-xtan, Phi-li-pin cũng tham gia vào quá trình này. Ở nước ta, theo Viện trưởng Di truyền nông nghiệp PGS, TS Lê Huy Hàm, năm 2007, Nhà nước mới có định hướng nghiên cứu, ứng dụng CTBÐG. Mấy năm qua, bước đầu chúng ta khảo nghiệm CTBÐG ở một số loại như bông, ngô, đu đủ và một vài loại cây lâm nghiệp. Riêng cây ngô đã có các công ty như Monsanto Thái-lan với ba giống ngô chuyển gien  là MON89034, NK603, và MON89034 x NK603; Công ty Syngenta Việt Nam với hai giống ngô chuyển gien là BT11 và GA21... được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép khảo nghiệm. Thực tế làm thử ở một số nơi như Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Ðác Lắc, đánh giá bước đầu của các nhà khoa học nông nghiệp: Các giống ngô biến đổi gien cho năng suất cao hơn 30% so với giống ngô thường; khả năng chống chịu sâu bệnh, thuốc diệt cỏ cũng cao hơn so với các giống ngô truyền thống.

Tại hội thảo CTBÐG tại Việt Nam, do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức vừa qua,  một số nhà khoa học cho rằng nước ta nên sớm đưa CTBÐG vào sản xuất để tránh tình trạng hằng năm phải nhập khẩu ba, bốn triệu tấn ngô và đậu tương biến đổi gien từ nước ngoài làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên không ít ý kiến băn khoăn, nghi ngại được đặt ra. Những câu hỏi phản biện của các nhà khoa học và quản lý xoay quanh: Việc đưa cây ngô chuyển gien vào trồng đại trà Việt Nam từ năm 2012 có sớm quá không? Sản xuất CTBÐG sẽ ảnh hưởng thế nào tới an ninh lương thực, tới cuộc sống của người nông dân nước ta? Vì sao chúng ta không khai thác hết thế mạnh của các cây trồng truyền thống lâu nay có tiềm năng xuất khẩu như gạo, cà phê, điều, các loại hoa quả... để lấy tiền nhập khẩu một số sản phẩm còn thiếu như ngô, đậu tương, bông? CTBÐG liệu có ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và sức khỏe con người?... Những vấn đề đó cần được làm rõ, vì xuất phát từ thực tế, việc khảo nghiệm CTBÐG của ta mới ở phạm vi hẹp, thời gian chưa dài; công nghệ biến đổi gien ở ta còn hạn chế; việc nghiên cứu, kiểm chứng ảnh hưởng tiềm ẩn của CTBÐG đối với môi trường và sức khỏe con người chưa làm được bao nhiêu. Và điều quan trọng là chúng ta còn thiếu hành lang pháp lý cho CTBÐG. Tháng 7-2007, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt "Ðề án tổng thể tăng cường năng lực quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gien và sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gien". Ðề án tổng thể tập trung vào nhiệm vụ: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý an toàn sinh học CTBÐG, nâng cao nhận thức của cộng đồng về an toàn sinh học... Nhưng việc triển khai xây dựng các cơ sở pháp lý cho lĩnh vực này còn quá chậm. Nghị định 69/2010/NÐ-CP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gien mới được ban hành từ giữa năm 2010, khoảng thời gian quá ngắn để có thể xây dựng và thực hiện các quy định. Một loạt vấn đề cần phải tiến hành như: Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan (Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Y tế); hệ thống và phương pháp phát hiện sinh vật biến đổi gien; xây dựng phòng thí nghiệm phân tích nguy cơ tiềm ẩn của sản phẩm CTBÐG; thanh tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu và sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gien...

CTBÐG là lĩnh vực công nghệ cao, phức tạp, lại mới được làm thử nghiệm ở nước ta trong một khoảng thời gian ngắn. Mặt khác đây vẫn là vấn đề đang được các nhà khoa học thế giới bàn luận, tranh cãi nhất là về những rủi ro của nó đang tiếp tục được nghiên cứu. Cho nên thời điểm năm 2012 hay 2015 đưa cây ngô hoặc cây bông biến đổi gien vào sản xuất đại trà ở nước ta không quan trọng. Mà điều giới khoa học cũng như các nhà quản lý quan tâm, xúc tiến là trình độ công nghệ về CTBÐG của ta đạt đến mức nào? Những lợi ích và mặt trái của CTBÐG đối với đa dạng sinh học và sức khỏe con người, đâu là hành lang pháp lý cho CTBÐG ở nước ta?... Giải quyết được những vấn đề trên, thì việc đưa CTBÐG vào sản xuất đại trà trên đồng đất của người nông dân mới có điều kiện phát triển. Bởi lẽ, sau hơn 20 năm ứng dụng cây lúa lai, các nhà tạo giống Việt Nam mới được công nhận 10 giống lúa lai tự tạo (đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu trong nước, còn 80% vẫn phải nhập khẩu của nước ngoài).

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.