Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 31/03/2008 15:31 (GMT+7)

Về công tác bảo vệ môi trường ở mỏ vàng Bồng Miêu

1. Về dây chuyền công nghệ chế biến

Nhà máy chế biến vàng ở Bồng Miêu sử dụng dây chuyền công nghệ tiên tiến nhất thế giới hiện nay. Không kể dây chuyền nghiền truyền thống, dây chuyền tuyển ở nhà máy Bồng Miêu là dây chuyền khép kín hoàn toàn. Khác với dây chuyền tuyển xiamua truyền thống áp dụng phổ biến ở hầu hết các mỏ vàng trên thế giới là toàn bộ quặng đều đưa vào ngâm chiết xianua, ở mỏ Bồng Miêu chỉ có phần tinh quặng thu hồi được sau tuyển trọng lực và tuyển nổi, bằng khoảng 10% khối lượng quặng đầu vào của Nhà máy, phải xử lý bằng xianua. Do đó, khối lượng quặng thải sau xử lý hoá chất xianua thải ra đập chứa chỉ bằng 10% tổng lượng quặng đưa vào nhà máy. Bể xử lý quặng bằng xianua là một thùng thép dày, không rỉ, kín hoàn toàn. Vàng sau khi được hoà toàn bằng xianua sẽ được điện phân để thu hồi và được nung chảy đúc khuôn. Lò nung đúc vàng là lò điện hoặc sử dụng gaz lỏng để nung chảy.

2. Về quản lý quặng thải

Quặng thải (gồm cả nước thải) từ nhà máy được chứa trong các đập thải. Hệ thống đập chứa thải ở Mỏ Bồng Miêu cũng là hệ thống an toàn đặc biệt. Đây là một trong ít mỏ trên thế giới có hai đập chứa thải riêng biệt, một đập chứa thải sau tuyển trọng lực và tuyển nổi, thành phần thải chủ yếu là bùn, cát mịn, và một đập chứa dành riêng cho quặng thải sau xử lý xianua.

Công trình xây dựng bảo đảm chất lượng, an toàn để tránh sự cố vỡ đập cũng rò rỉ hoá chất xuống các tầng nước ngầm. Nền/ đáy đập chứa thải quặng ngâm chiết (đập số 3) lót bằng lớp vật liệu sét, đầm nén chặt để tránh thẩm thấu nước thải xuống các tầng nước ngầm. Các bờ đập được trồng cỏ bảo vệ khỏi bị xói mòn.

Quặng thải được thải thành lớp nghiêng sát chân đập chắn để dồn nước thải trong đập ra xa bờ đập, giảm áp lực nước lên bờ đập. Đập chứa thải có đủ dung tích chứa và thời gian dài lưu giữ quặng thải, không để thải tràn ra ngoài khu vực chứa. Nằm dưới đập chứa quặng thỉa của dây chuyền xianua là đập số 1 chứa quặng thải của dây chuyền truyển trọng lực và tuyển nổi. Các đập chắn khu chứa thải được xây dựng có độ bền vững cao nhằm tránh rủi ro vỡ đập. Dưới đập 1 còn xây dựng hố thu nước để thu gom nước rò rỉ từ đập 1 và bơm chúng trở lạ đập 1. Các đập chứa thải được xây dựng giống như những hồ nước, trong đó quặng thải sẽ được giữ lại vĩnh viễn trong lòng hồ. Quặng thải của dây chuyền tuyển trọng lực và tuyển nổi được bơm trực tiếp ra chứa tại đập thải số1, còn quặng thải từ dây tuyển xianua sau khi được khử độc và được phân tích kiểm tra bảo đảm đáp ứng các yêu cầu của TCVN về môi trường được bơm ra chứa ở đập thải số 3. Thải được bơm theo các đường ống HPDE chịu áp. Trong quá trình hoạt động những sự cố về máy móc thiết bị cũng như về quản lý môi trường xảy ra là điều khó tránh khỏi. Trong báo cáo ĐTM cũng đã nêu vấn đề sự cố môi trường có thể và biện pháp khắc phục sự cố. Trong thời gian qua đã có một lần đường ống dẫn thải sau khi đã được xử lý khử độc bị đứt khớp nối. Sự cố không để lại hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường, không ảnh hưởng đến nguồn nước trong khu vực dự án. Ngay khi phát hiện ống dẫn thải bị đứt, Công ty đã kịp thời sửa chữa lại đường ống dẫn thải.

Để tăng cường mức độ an toàn, hiện nay các ống dẫn thải đã được thay thế bằng loại ống HPDE có đường kính lớn hơn; các khớp nối được gia cố bền vững hơn, ngoài việc hàn nối trực tiếp các ống với nhau, tại các mối nối còn được bọc thêm khớp nối bên ngoài. Ống dẫn quặng thải sau xử lý nianua còn được bọc thêm bên ngoài bằng vải nhựa HPDE và được đặt trong lòng mương xây dẫn từ nhà máy đến đập chứa thải (hình 1) để đề phòng trường hợp ống dẫn thải bị vỡ thì quặng thải cũng không chảy ra ngoài được môi trường tự nhiên.

3. Xử lý quặng thải

Quặng thải lẫn nước/ dung dịch của dây chuyền tuyển trọng lực và tuyển nổi được bơm trực tiếp ra đập 1 mà không cần qua bước xử lý nào. Riêng quặng của dây chuyền xử lý bằng xianua được xử lý khử độc trước khi bơm ra ngoài đập chứa số 3. Xianua chứa trong quặng thải ngâm chiết và dung dịch xử lý thừa sẽ được khử độc bằng hydro peroxit theo phản ứng sau:

CN + H 2O 2®CNO + H 2O (1)

Xianua sẽ phản ứng với hydro peroxit để tạo thành những hợp chất trung gian không độc như xianat. Hỗn hợp bùn quặng sau khi được khử độc sẽ được bơm ra đập ngâm chiết, tại đây xianat sẽ thuỷ ngân để tạo thành cacbonat và các ion amoni:

CNO + 2H 2O®NH 4++ CO 32-(2)

Khử độc xianua bằng hydroperoxyt (H 2O 2) là một trong những phương pháp được nêu trong bản “Quy trình công nghệ tiêu hủy hoặc tái sử dụng xianua” ban hành kèm theo Quyết định số 1971/QĐ-BKHCNMT ngày 10/11/1999 của Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Sau khi được xử lý phân hủy xianua thì nồng độ xianua WAD (< 5 mg/l) và hàm lượng các kim loại nặng, chất rắn lơ lửng trong nước và quặng thải sữ ở mức chấp nhận được. Ở mức này, nồng độ xianua trong nước thải sẽ không còn ảnh hưởng đến sự sống của các loài sinh sống trong khu vực đập. Các hợp chất xianua trong đập 3 chỉ còn khoảng 0,3 mg/l. Lượng nước dưa chứa trong đập 3 được bơm sang đập 1. Tại đập 1 nồng độ xianua được hoà loãng xuống dưới mức quy định của TCVN. Dưới chân đập chứa thỉa 1 có hồ thu nước rò rỉ từ đập. Kết quả phân tích mẫu nước lấy từ hố thu dưới chân đập 1 cho hàm lương tổng xianua là 0,03 mg/l và xianua tự do < 0,001 mg/l, thấp hơn nhiều so với TCVN. Nước thải từ đập 1 thải ra môi trường tiếp nhận trong suốt, sạch và hoàn toàn an toàn đối với môi trường. Thực tế tại đập 1 và hố thu nước dưới đập1 các loài thuỷ sinh vẫn sống và phát triển bình thường.

4. Quan trắc môi trường nước mặt và nước ngầm

Công ty thường xuyên lấy mẫu phân tích quặng và nước thải từ nhà máy ra đập chứa nước thải mỗi ngày 3 lần. Chỉ khi kết quả phân tích hàm lượng xianua đạt mức cho phép thì chất thải nhà máy mới được bơm ra khu đập chứa thỉa. Mẫu phân tích hàng ngày cũng như những mẫu do đoàn thành tra Sở TN & MT lấy phân tích kiểm tra đều cho kết quả hàm lượng xianua thấp hơn yêu cầu của TCVN. Kết quả phân tích mới đây nhất các mẫu nước lấy trong hồ thu nước dưới chân đập 1 cho thấy các tầng nước ngầm hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi nước thải và quặng thải của mỏ Bồng Miêu..

Công ty lấy mẫu nước định kỳ hàng tháng theo chương trình quan trắc đã duyệt trong báo cáo ĐTM. Mẫu nước được lấy ở các khu đập chứa thải (đập 1, đập 3), ở hố thu nước và các giếng khoan dưới chân đập 1, ở hạ lưu suối Lò dưới khu chứa thải và các trạm quan trắc dọc sông Vàng (sông Bồng Miêu) về thượng lưu và hạ lưuu cửa suối Lò. Mẫu được gửi phân tích tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng 2, Đà Nẵng. Ngoài ra, mẫu nước thải còn được lấy mỗi ngày 2 lần để phân tích kiểm tra hàm lượng xianua tại phòng thí nghiệm của mỏ và lấy mẫu nước thải mỗi tuần một lần gửi phân tích tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lươngg Chất lượng 2. Tại nhà máy trong quá trình khử độc xianua và xả thải, cứ mỗi 15 phút lấy mẫu nước thải một lần đem phân tích kiểm tra.

Kết quả nghiên cứu môi trường nền về chất lượng nước ngầm trong các mẫu lấy năm 1994 cho thấy có sự vượt trội về độ pH và hàm lượng CN. Độ pH của những giếng nước ngầm này đều có gai trị từ axit đến trung tính, dao động từ 3,77 đến 6,89. Vào thời điểm đó nồng độ của CN trong hầu hết các mẫu phân tích đều vượt qua giới hạn cho phép. Các mẫu lấy năm 2004 cũng cho thấy có sự vượt trội về độ pH và hàm lượng Fe; pH của các mẫu lấy trong thời gian đó là từ 5,3 đến 6,9. Kể từ tháng 4 năm 2004 đến nay cũng như về sau này Công ty vẫn tiếp tục lấy mẫu nước mặt và nước ngầm vì các đặc tính hoá học của nước thỉa khác hoàn toàn với các đặc tính hoá học của nước ngầm. Hàm lượng kim loại nặng và CN trong nước thỉa của Nhà máy thấp hơn các giá trị nền của các mẫu lấy tại các giếng nước ngầm trong khu vực. Giá trị pH trong nước thải của Nhà máy cũng cao hơn so với giá trị pH hơi axit của các giếng nước ngầm.

Kết quả phân tích mẫu nước thỉa, nước mặt cũng như các mẫu nước ngầm lấy từ các giếng khoan đều cho thấy hàm lượng xianua cũng như kim loại nặng đều năm trong giới hạn cho phép của TCVN. Trên thực tế Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu là “Công ty khai thác vàng duy nhất trên thế giới” phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt chỉ có duy nhất ở Việt Nam về nồng độ xianua tổng trong dòng thải phải nhỏ hơn ngưỡng 0,1 ppm (theo TCVN 5945 – 1995, cột B). Không có một quốc gia hay một tổ chức quốc tế nào trên thế giới áp dụng mức giới hạn tối đa đối với xianua tổng lại nghiêm ngặt như vậy. Tất cả các nước khác đều áp dụng mức giới hạn cho phép cao hơn đối với một dạng xianua hay nhiều dạng xianua kết hợp, ví dụ: CN tự do, CN WAD, CN tổng.

Công ty Bồng Miêu hiện đang vượt xa việc đáp ứng được các yêu cầu về thông số môi trường theo các qui định nghiêm ngặt của thế giới thông qua việc tuân thủ các tiêu chuẩn của Việt Nam về nồng độ xianua và kim loại nặng trong nước thải. Tất cả các số liệu phân tích đều được lưu giữ tại Công ty và tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2.

5. Quản lý rác thải, bụi và môi trường không khí

Tuân thủ báo cáo ĐTM đã được duyệt, Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu xả rác thải sinh vào khu chứa thải quy định, không gây ảnh hưởng đến môi trường sống của dân địa phương. Công ty không những chỉ thu gom nguồn rác thải sinh hoạt của Công ty mà còn các thùng chứa rác cho nhân dân địa phương và thu gom chúng về một nơi thích hợp. Rác từ nhà máy như các loại thùng nhựa được công ty chuyển khỏi Bồng Miêu đến những cơ sở thu gom chúng để tái chế. Để giảm thiểu bụi do lưu thông các phương tiện vận tải Công ty đã sử dụng phun nước hoạt động hàng ngày trên tuyến đường An Lâu - Bồng Mieue và trên các đường nội mỏ. Trong suốt mùa hè 2006, trước khi Công ty xây dựng đoạn đường nhựa An Lâu - Bồng Miêu, mỗi ngày xe phun nước dọc đường ít nhất 3 lần. Hiện nay đường nhựa Tam Lãnh Bồng Miêu đã xây dựng xong, dân chúng Bồng Miêu không còn bị ảnh hưởng bởi bụi đường mỗi khi xe chạy qua nữa. Tại khu vực mỏ, nằm xa khu dân cư trên 1 km, các đường nội mỏ vẫn được phun nước chống bụi vào những ngày khô nắng.

Tại khu nhà máy chế biến, các thiết bị nghiền đá, ngoài máy đập hàm là máy hở, còn máy đập công và máy nghiền bi đều là những máy kín, hoàn toàn không phát tán bụi khi hoạt động. ở những nơi có khả năng sinh bụi, như phòng gia công mẫu, Công ty lắp đặt hệ thống hút bụi và thu gom bụi. Nơi có khả năng phát tán bụi Công ty đều có hệ thống phun nước/ sương đểhạn chế sự phát tán bụi trong không khí. Đối với môi trường không khí, hoạt động sản xuất của mỏ Bồng Miêu chỉ có thể sinh khí xianua, do vậy việc quan trắc môi trường khí chỉ được tiến hành đối với khí xianua. Tại phòng vàng, sau khi thu hồi vàng bằng phương pháp điện phân, vàng được nung chảy để đúc thỏi. Lò nung chảy vàng dùng nhiên liệu là khí hoá lỏng hoặc bằng năng lượng điện.

6. Về môi trường kinh tế xã hội

Hoạt động khai thác vàng của Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu đã bước đầu mang lại những thay đổi tích cực ở khu vực dự án. Với chính sách ưu tiên tuyển dụng lao động địa phương, tạo công ăn việc làm cho người lao động địa phương, Công ty đã tuyển hơn 300 lao động người địa phương làm việc cho mỏ.

Người lao động địa phương có việc làm ổn định, thu nhập tương đối cao, được hưởng mọi chế độ bảo hiểm theo Luật quy định. Bên cạnh những lao động trực tiếp, hoạt động của mỏ cũng đã tạo điều kiện cho việc phát triển những dịch vụ kèm theo, tạo việc làm gián tiếp cho hàng trăm người khác. Thu nhập của người lao động mỏ vàng Bồng Miêu kích thích nhu cầu tiêu dùng tại khu vực dự án, đời sống xã hội ở khu vực này có những thay đổi tích cực. Trong khu vực Công ty quản lý, nạn khai thác vàng trái phép đã giảm xuống rất thấp; người vào hầm lò khai thác vàng trái phép chỉ còn là hiện tượng hiếm gặp. Nhờ vậy, sông suối ở Bồng Miêu không còn bị nhiễm xianua do người làm vàng trái phép gây ra, nước sông Bồng Miêu đã trở lại trong xanh, sạch, quần thể thuỷ sinh đã phát triển trở lại phong phú như những năm trước 90 của thế kỷ trước. Trật tự trị an ở Bồng Miêu cũng vì thế mà được cải thiện.

Để truyền thông môi trường, Công ty đã tổ chức những cuộc họp với nhân dân địa phương giới thiệu về các hoạt động sản xuất của mỏ và những vấn đề liên quan đến tác động và bảo vệ môi trường. Những cuộc tiếp xúc với nhân dân, với chính quyền địa phương đã giúp cho nhân dân hiểu rõ hơn về hoạt động của Công ty.

7. Về vấn đề sự cố môi trường, phương pháp khắc phục

Trong suốt quá trình hoạt động của mỏ không thể tránh khỏi các sự cố về môi trường có thể xảy ra. Vấn đề là sự cố và hậu qủa để lại hậu quả nghiêm trọng đến mức độ nào và biện pháp ngăn ngừa, xử lý sự cố môi trường kịp thời, hiệu quả đến đâu. Ví dụ sự cố đứt ống dẫn thải ngày 20 – 11 – 2006 ở mỏ Hố đã được Công ty xử lý một cách nhanh chóng thông qua việc dọn toàn bộ lượng xái quặng bị tràn đổ, khử độc môi trường khu vực bị tác động bằng hoá chất CaOCl 2. Khi xảy ra sự cố, Công ty cũng đã thông báo và thảo luận với UBND xã Tam Lãnh về việc giải quyết những tình huống xảy ra. Vì vậy sự cố đó đã không gây hậu quả ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân viên Công ty làm việc tại nhà máy cũng như đến sức khoẻ và môi trường sống của nhân dân địa phương.

Các nguyên tắc ứng cứu trong trường hợp khẩn cấp (đặc biệt các sự cố có liên quan đến rò rỉ chất thải, vỡ đập, các sự cố khác cũng như các tai nạn lao động hay nghề nghiệp) đều được thiết lập tại khu vực mỏ. Công ty cũng có cả chương trình tập huấn đầy đủ đối với các biện pháp trên trong thực tế. Chẳng hạn, trong suốt khoảng thời gian có mưa bão và trong những ngày mưa lớn kéo dài, tất cả những khu vực được đánh giá là có nguy cơ xảy ra sự cố đều được bố trí người và phương tiện để quant rắc và giám sát. Những khu vực này cũng được trang bị các thiết bị có công suất lớn như máy ủi, máy xúc, xe tải lớn.

8. Phục hồi môi trường ngay trong quá trình xây dựng mỏ và khai thác

Theo nội dung ĐTM đã được duyệt, trước khi đi vào sản xuất, Công ty đã nộp tiền ký quỹ phục hồi môi trường được thực hiện ngay trong quá trình xây dựng mỏ và sản xuất. Hiện nay hàng vạn cây xanh đã được trồng trên các sườn đồi, vách núi, ta luy đường để chống xói lở và phủ xanh đồi trọc.

9. Đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động của Công ty liên quan đến bảo vệ môi trường

Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của tỉnh Quảng Nam, huyện Phú Ninh cũng như chính quyền và nhân dân xã Tam lãnh rất quan tâm đến những vấn đề bảo vệ môi trường tại mỏ vàng Bồng Miêu, đã nhiều lần tổ chức các đoàn thanh tra làm việc với Công ty tại mỏ Bồng Miêu. MỘt trong những kỳ kiểm tra do Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Nam chủ trì phối hợp với Chi cục quản lý Hoạt động khoáng sản Miền Trung, Uỷ ban Nhân dân huyện Phú Ninh, Uỷ ban Nhân dân xã Tam Lãnh diễn ra vào ngày 18 – 5 – 2006. Đoàn đã kiểm tra các công đoạn sản xuất liên quan đến các nguồn thải, đã lấy mẫu nước từ các đập chứa thải và sông Bồng Miêu để phân tích kiểm tra. Biên bản kiểm tra thực địa và Thông báo số 111/TB-TNMT ngày 13 – 7 – 2006 lập dựa trên biên bản kiểm tra và kết quả phân tích mẫu kiểm tra đều đánh giá tốt về công tác quản lý môi trường của Công ty tại Bồng Miêu.

10. Kết luận

Hoạt động khai thác và chế biến vàng tại Mỏ Bồng Miêu của Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu luôn tuân thủ các quy định của luật pháp Việt Nam, đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường theo Luật Môi trường và tổ chức công tác bảo vệ môi trường đúng theo nội dung báo cáo ĐTM đã được phê duyệt.

Trong quá trình sản xuất, nhiều biện pháp bảo vệ môi trường được Công ty thực hiện ở mức độ cao hơn, an toàn hơn những gì đã được phê duyệt trong báo cáo ĐTM. Môi trường sinh thái cũng như môi trường kinh tế xã hội ở Bồng Miêu đang có những thay đổi theo hướng tốt hơn so với những năm trước khi mỏ đi vào sản xuất. Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản thường tạo nên những tác động tích cực đối với môi trường kinh tế xã hội song nó vẫn thường là tác nhân của sự suy thoái môi trường sinh thái và điều này thường dễ dàng được chấp nhận hoặc thông cảm trong nhiều thập kỷ qua.

Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, vấn đề về bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đề không thể xem nhẹ trên con đường theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững của cả nhân loại. Chính vì lẽ đó mà Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu đã xây dựng chính sách “Phát triển hoạt động khoáng sản thân thiện với môi trường” áp dụng trong mọi hoạt động của Công ty nhằm đạt đến sự hài hoà lợi ích trong quá trình phát triển giữa ngành công nghiệp khai khoáng với sự bền vững của môi trường sinh thái.

Nguồn: Công nghiệp mỏ, 1 - 2008, tr 37

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.
Lâm Đồng: Gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026
Chiều ngày 15/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026. Dự và chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành và 150 đại biểu trí thức tiêu biểu của tỉnh.