Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 29/01/2007 23:34 (GMT+7)

Văn hóa truyền thống trong tiến trình hiện đại hóa xã hội

Có ba yếu tố chứng tỏ Nho giáo tới nay vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Thứ nhất, những thảm họa sinh thái mang tính toàn cầu gần đây cho thấy, quan điểm của Nho giáo cho rằng chúng ta chỉ có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng một cách hài hòa giữa con người, xã hội và tự nhiên. Thứ hai, hiện nay ít có những lý giải sai lầm và xuyên tạc về Nho giáo so với thời chưa đổi mới. Thứ ba, Nho giáo có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh khi bước vào giai đoạn phát triển hậu công nghiệp, vì Nho giáo là học thuyết đạo đức - chính trị và là hệ thống nhân sinh quan bao hàm các định hướng đúng đắn cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa con người và tự nhiên.

Hiện đại hóa xã hội là một phạm trù rộng lớn, bao phủ mọi lĩnh vực quan hệ xã hội từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc và ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau. Nhiều người cho rằng, hiện đại hóa xã hội là một thách thức đối với các nước đang phát triển, là việc tìm kiếm các hình thức tồn tại văn minh trong một thực tại mới của thế giới. Khi nói tới hiện đại hóa, đa số các học giả có thiên hướng phán xét về tính hiện đại của một quốc gia dựa vào mức độ tiến gần tới hay gia nhập vào văn minh phương Tây. Nghĩa là với họ, văn minh phương Tây chính là thước đo chung về tính hiện đại. Hiện đại tức là phương Tây, là một quốc gia kiểu phương Tây. Khi nói tới hiện đại hóa xã hội, người ta thường hàm ý không hẳn sự tăng trưởng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp mà chủ yếu là phát triển các ngành kinh tế quốc dân hiện đại, sử dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật mới nhất trong sản xuất.

Có nhiều cách phân biệt khác nhau về tiêu chí của hiện đại hóa. Tuy nhiên, có thể nêu ra một số dấu hiệu sau: mức độ đô thị hóa; mức độ biết chữ và sự hiện diện một hệ thống giáo dục chuyên nghiệp; số lượng báo chí lưu hành; dân chủ hóa chính trị; bảo đảm tự do kinh doanh; thừa nhận xã hội là một cơ thể trần tục; nâng cao tính ổn định xã hội; phân hóa ngành nghề; hệ thống tổ chức xã hội của quần chúng; ý thức của công dân về tổ quốc của mình; hệ thống pháp luật phát triển; tự do tinh thần. Hiện đại hóa đòi hỏi phải cải biến toàn bộ cơ cấu của xã hội, hệ thống quan hệ xã hội và điều quan trọng nhất là cải biến bản thân con người. Hiện đại hóa không những là cải thiện mức sống vật chất mà còn là cải biến quan niệm, tâm tính của con người. Sống trong căn hộ hiện đại, có xe ô tô riêng, đồ ăn “Tây”, mặc kiểu “Tây”..., tất cả những thứ đó vẫn chưa đủ để nói tới hiện đại hóa. Đối với một người thì hiện đại hóa nghĩa là có tri thức và quan niệm hiện đại, hành động phù hợp với các chuẩn mực hiện đại, còn đối với xã hội thì cần phải nói tới nhà nước pháp quyền, xu hướng hợp lý, công bằng và đồng thuận.

Sẽ là sai lầm nếu cho rằng hiện đại hóa là hoàn toàn đoạn tuyệt với toàn bộ kinh nghiệm văn hóa và xã hội trước đó. Hiện đại hóa không phải là một cuộc vận động chống lại truyền thống hay phi truyền thống, mà là kế thừa, phát huy những giá trị tốt đẹp của truyền thống. Hiện đại hóa có một phương châm quan trọng là hiện đại hóa chính trị. Nó bao gồm việc thay đổi cơ cấu và chức năng của hệ thống chính trị, hợp lý hóa hệ thống này; bao gồm việc dân chủ hóa, thực hiện quyền lực thuộc về đa số, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ và bộ máy công quyền.

Trong xu thế đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc phạm trù văn hóa Nho giáo (Nhật Bản, Trung Quốc, Sinhgapo, Hàn Quốc, Việt Nam và cả Đài Loan) có nhiều nét rất riêng biệt, Nho giáo đã có lúc bị coi là những rào cản cần phải xóa bỏ tận gốc. Song thực tiễn, vài thập niên trở lại đây, sự phát triển đột biến của các quốc gia này đã đặt ra vấn đề vai trò của Nho giáo trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Tư tưởng trung tâm của triết học Nho giáo là tư tưởng “nhân ái”, đó là tư tưởng hy sinh và tình yêu phổ biến. Nó được thực hiện khi con người có bốn đức hạnh: “Lễ”, “Nghĩa”, “Trí”, “Tín”. Các nguyên tắc và các đức hạnh này tạo thành tinh hoa của văn hóa Nho giáo.

Quy tắc đạo đức của gia đình Nho giáo truyền thống thể hiện qua sự hiếu nghĩa, trách nhiệm của cha mẹ về con cái, tình yêu và thái độ tôn trọng lẫn nhau của anh em, tôn trọng thầy giáo và người già. Gia đình là một cơ cấu tổ chức xã hội. Do vậy, gia đình là cơ sở của Nhà nước, đời sống chính trị và xã hội của con người bắt đầu từ đó.

Theo một số học giả, quan niệm Nho giáo về mối quan hệ hài hòa giữa người với người, về gia đình có thể được khai thác, phát huy trong đời sống hiện đại. Đặc trưng thứ nhất của văn hóa Nho giáo là lấy gia đình làm cơ sở quan trọng nhất. Đó là sự đồng thuận giữa các thành viên của nó, các thành viên gia đình làm việc trước hết vì lợi ích của gia đình, sau đó là của họ hàng, sau nữa là của toàn thể xã hội. Gia đình là đơn vị kinh tế cơ sở, là một cơ cấu kinh tế thống nhất, chính nó giáo dục con người các phẩm chất như: tình yêu lao động, sự nhiệt tình, siêng năng, tiết kiệm, chân thành, trung thực và tương trợ lẫn nhau một cách tự nguyện. Đặc trưng quan trọng thứ hai của Nho giáo là khát vọng nhận được học vấn - sự hiếu học. Trong văn hóa Nho giáo, trí thức luôn được xem là tầng lớp quan trọng nhất, là giới tinh hoa của xã hội.

Nền văn hóa Nho giáo từ xa xưa đã nhấn mạnh tính chất quan hệ ổn định giữa trên và dưới. Yếu tố này cũng có vai trò của mình trong các quá trình hiện đại hóa xã hội. Thiên hướng của người nho giáo là chấp hành vô điều kiện mệnh lệnh của người trên, chính điều này đã góp phần duy trì sự ổn định chính trị ở giai đoạn thực hiện các kế hoạch hiện đại hóa đất nước. Ổn định chính trị đối với các nhà kinh tế là nhân tố quan trọng để họ quyết định đầu tư tham gia vào thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Không thể thông qua một kế hoạch đầu tư dài hạn trong một môi trường bạo loạn, bạo lực và bất ổn xã hội.

Đương nhiên, mối liên hệ giữa các nhân tố văn hóa với phát triển kinh tế mang tính chất phức tạp, biện chứng. Thứ nhất, cùng một nền văn hóa, cùng các yếu tố của nó ở các giai đoạn lịch sử khác nhau có thể đóng vai trò khác nhau. Thứ hai, ở cùng một giai đoạn lịch sử, một địa điểm, văn hóa có thể có ảnh hưởng hai mặt - tích cực và tiêu cực - đến phát triển xã hội. Thứ ba, văn hóa không phải là một cái bất biến, ngược lại, nó thường xuyên biến đổi, chịu tác động của các nhân tố xã hội khác. Thứ tư, văn hóa có tác động không như nhau đến các tầng lớp xã hội khác nhau.

Ở phương Tây trước đây, M.Weber đã đưa ra tư tưởng về sự phụ thuộc của đạo đức xã hội và của các xu hướng phát triển kinh tế vào hệ thống giáo lý tôn giáo. Theo ông, chính đạo đức Kitô giáo bao hàm tinh thần của chủ nghĩa tư bản, Kitô giáo có các giá trị như thận trọng, tiết kiệm, khát vọng đổi mới và phục vụ nhân loại, chúng là các nhân tố tinh thần cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu. Kitô giáo cũng mang theo mình tinh thần của chủ nghĩa cá nhân. M. Weber cũng cho rằng, trong xã hội Nho giáo không có tinh thần của chủ nghĩa tư bản, vì các thành viên của nó ít có nghị lực và ít duy lý hơn tín đồ Kitô giáo. Đối với ông, Nho giáo, về thực chất, là thù địch với sự phát triển kinh tế và hiện đại hóa xã hội. Theo ông, xã hội Nho giáo không có “đạo đức kinh tế ”, không dung hợp được với chủ nghĩa tư bản và tăng trưởng kinh tế. Đó là do Nho giáo không có tính năng động về đạo đức, điều chủ yếu trong các giá trị Nho giáo là điều tiết xã hội chứ không phải là thống trị có ý thức đối với xã hội.

Quan niệm của M. Weber đã chi phối các nhà khoa học phương Tây suốt một thời gian dài. Đối với họ, Nho giáo là trở ngại cơ bản trên con đường phát triển của các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo. Họ chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế đó là: Trong sự phân tầng xã hội, người lao động, người buôn bán giữ vị trí thấp nhất; đề cao lợi ích của gia đình, điều này dẫn đến cản trở sự phát triển quy mô sản xuất; thực hiện quyền thừa kế của mọi con cái, do đó đưa đến phân tán tư bản; quá chú trọng tiết kiệm, vì thế hạn chế sự luân chuyển, lưu thông và sử dụng tư bản; và, thái độ coi thường người thợ, điều này sẽ cản trở sự cải tiến kỹ thuật...

Như vậy, văn hóa Nho giáo được xem là chỗ dựa của chế độ phong kiến, trong Nho giáo không có chủ nghĩa cá nhân cũng như các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện đại. Nho giáo nhấn mạnh sự giám sát hoạt động của con người từ phía tập thể, con người riêng biệt không thể là cá nhân độc lập. Nho giáo chỉ quan tâm tới việc giáo dục các phẩm chất “đức hạnh” của con người. Nho giáo xem quá trình phát triển trí tuệ của dân tộc không phải là tích lũy tri thức và thông tin mà là truyền đạt những tư liệu có sẵn từ xa xưa.

Thế nhưng, thành tựu kinh tế to lớn của các nước và vùng lãnh thổ phương Đông (Nhật Bản, Trung Quốc, Sinhgapo, Hàn Quốc và Đài Loan) buộc các nhà nghiên cứu phương Tây phải thay đổi đánh giá về vai trò của Nho giáo trong phát triển kinh tế. Thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản Nho giáo” đã xuất hiện. Qua nghiên cứu họ nhận ra rằng các giá trị văn hóa Nho giáo truyền thống có vai trò đặc biệt trong quá trình hiện đại hóa.

Nho giáo là một hệ thống giá trị điều tiết quan hệ giữa người với người được Khổng Tử khái quát thành đạo lý và các giá trị đạo đức chuẩn mực. Ông muốn giáo dục cho mỗi người bằng con đường tự hoàn thiện. Khổng Tử đặc biệt quan tâm đến cuộc sống hiện thực của con người cùng với những lo âu hàng ngày của họ. Sự sùng bái dòng họ phổ biến rộng rãi, và nó hoàn toàn dựa trên đạo đức Nho giáo. Tác phẩm của ông là tập trung sự thông thái của con người, vì lẽ đó nhiều khẳng định có một chủ nghĩa duy lý Nho giáo.

Theo Nho giáo, mọi người đều có quan hệ dòng họ với nhau. Suốt nhiều nghìn năm, người Trung Quốc sống trong một không gian địa lý, do vậy ở họ đã hình thành niềm tin là họ sinh ra từ một tổ tiên, có quan hệ dòng họ với nhau. Nếu gia đình là nhà nước thu nhỏ, thì nhà nước là một gia đình mở rộng. Vì gia đình là nhóm xã hội cơ bản, nên các giá trị của chủ nghĩa duy lý Nho giáo định hướng vào nó. Mỗi thành viên gia đình đều xem quan hệ gia đình là bất biến và do vậy mỗi người đều phải có thái độ đúng mực đối với gia đình trong suốt cuộc đời. Quan hệ như vậy không dừng lại ở trong gia đình mà được phổ biến rộng rãi ra các cộng đồng người khác. Chúng có ảnh hưởng tới các hiện tượng xã hội khác nhau như công danh, sự hình thành cơ cấu quan chức, và hoạt động kinh doanh. Như vậy, trái ngược với chủ nghĩa duy lý phương Tây là dựa vào chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy lý Nho giáo coi chủ nghĩa tập thể gia đình là cơ sở của quan hệ giữa người với người.

Nho giáo dạy cách làm người là quá trình liên tục tự phát triển, tự hoàn thiện. Nó có tính chất hai mặt - nắm bắt thói quen nghề nghiệp, tri thức chuyên môn và ý thức về cái tôi của mình, tự nhận thức. Nho giáo coi cái tôi không phải là một con người riêng biệt, mà là sự tập trung những quan hệ khác nhau của nó với thế giới bao quanh - gia đình, xã hội, nhà nước, vũ trụ. Sự hình thành con người có nghĩa là hiện thực hóa cái tôi của mình, là phát triển các phẩm chất bẩm sinh của mình. Như vậy, nguồn gốc tự phát triển của con người là thái độ tôn trọng đối với bản thân và nắm bắt tri thức.

Trong xã hội Nho giáo dần dần diễn ra sự đạo đức hóa quan hệ xã hội và chính trị; đồng thời cũng là chính trị hóa các giá trị đạo đức. Sự chính trị hóa này thường mang ý nghĩa tiêu cực vì nó dẫn tới sự phục tùng quyền uy, sự phân cấp quan hệ xã hội, sự thủ tiêu các cơ sở hợp lý của chúng, sự thể chế hóa nghiêm ngặt. Mô hình người cầm quyền có đức hạnh (người quân tử) bị sử dụng để đàn áp người khác. Quan niệm thống trị trong xã hội coi sứ mệnh của con người là phục tùng. Do vậy, Nho giáo không đáp lại được sự thách thức của chủ nghĩa tự do phương Tây.

Các giá trị Nho giáo đến nay vẫn chưa đánh mất ý nghĩa của nó, đặc biệt là đối với các nước châu Á. Chúng được sử dụng nhằm chống lại hai xu hướng bộc lộ trong sự phát triển dân chủ ở các nước phương Tây: xu hướng biện hộ cho tự do cá nhân mà không mở rộng trách nhiệm của họ và xu hướng mất cân đối giữa chuẩn mực pháp lý và chuẩn mực xã hội.

Truyền thống văn hóa phương Đông rất khác với các giá trị dân chủ phương Tây, trước hết vì chúng nhấn mạnh vai trò của toàn thể xã hội trong việc tạo ra một hệ thống chính trị ổn định. Nho giáo cho phép duy trì sự cân bằng giữa các quyền cá nhân và lợi ích xã hội. Mặt mạnh của Nho giáo là ở chỗ nó là tổng số các chuẩn mực đạo đức điều tiết lối ứng xử của con người trong xã hội.

Nho giáo đòi hỏi giảm tối đa sự căng thẳng xã hội, điều này cho phép gọi đó là “đạo đức học hợp lý”. Việc đạt tới sự đồng thuận giữa mọi người cho phép hợp nhất nỗ lực của họ để thực hiện các nhiệm vụ chính trị và xã hội với bất kỳ quy mô nào. Ưu điểm của Nho giáo là nó nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong việc điều tiết quan hệ giữa người với người. Không phủ định ý nghĩa của các quy tắc pháp lý trong việc xây dựng xã hội dân chủ, nó đồng thời cũng chống lại sự tuyệt đối hóa chúng. Trong quan hệ gia đình - hôn nhân, chúng không thể thay thế được các nguyên tắc tôn giáo và giáo dục. Luật pháp và đạo đức cần phải tác động cùng nhau. Xét về phương diện này thì Nho giáo cùng với tổng số chuẩn mực đạo đức của nó có một triển vọng tốt đẹp. Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ giữa con người và xã hội. Nếu tư tưởng chính trị phương Tây nhấn mạnh vai trò của dân chủ, hiểu nó như là quyền của cá nhân thực hiện lợi ích của mình, khi đó không dừng lại trước xung đột với xã hội thì Nho giáo nhấn mạnh tính vững chắc của quan hệ gia đình. Nói cách khác, nếu chủ nghĩa cá nhân thống trị ở phương Tây thì chủ nghĩa tập thể là nguyên tắc chủ đạo ở các nước thuộc văn hóa Nho giáo. Chủ nghĩa tập thể Nho giáo giả định ngay từ đầu phải có các nguyên tắc có quan hệ trực tiếp với cá nhân riêng biệt, với sự hoàn thiện cá nhân. Nguyên tắc nhân ái được phát triển trong gia đình, nhưng gia đình gồm nhiều thành viên có cá tính. Chính gia đình hợp nhất cái cá nhân và cái tập thể. Do vậy, Nho giáo có cả hai mặt cho phép nó đóng vai trò tích cực trong xã hội hiện đại.

Đạo đức học Nho giáo khẳng định lý tưởng tích cực về trách nhiệm xã hội, lý tưởng giả định lao động cực nhọc vì bản thân và vì người thân, đạo đức kinh doanh nghiêm ngặt, tinh thần chủ động, đầu óc tháo vát, trung thành với mục đích đặt ra,... Do vậy, hệ thống giá trị Nho giáo sẽ tiếp tục là nhân tố quan trọng của văn hóa chính trị và quan hệ kinh tế trong xã hội hiện đại.

Khổng Tử từng nói: “Người quân tử thông thạo việc tuân thủ bổn phận, người tiểu nhân thông thạo việc kiếm lợi”. Người quân tử có nghĩa là quan lại, người tiểu nhân là dân thường. Cần phải hiểu điều đó như sau: quan chức chính phủ quan tâm tới việc duy trì trật tự công bằng trong xã hội, còn dân thường nghĩ về việc nhận được lợi nhuận. Hai nhóm xã hội này hoàn thành các chức năng khác nhau - nhân viên bộ máy nhà nước bảo đảm trật tự xã hội công bằng, còn nhân dân lao động nhiệt tình để kiếm được nhiều lợi, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế.

Như vậy, Nho giáo nhấn mạnh tầm quan trọng: mỗi người phải có công việc riêng của mình. Nó khuyến khích họ tìm kiếm lợi nhuận cho mình và rốt cuộc, cho xã hội. Tính hợp lý kinh tế trong Nho giáo được đánh giá từ góc độ sự hài hòa của lợi ích chung, không những của cá nhân mà còn của toàn thể xã hội. Như vậy, Nho giáo chứa đựng tinh thần của chủ nghĩa tư bản giống như đạo đức Kitô giáo.

Nho giáo ở các quốc gia phương Đông rất khác với các truyền thống tinh thần khác trên thế giới. Nó là một bộ phận kinh nghiệm sống của các dân tộc Đông Á, có đóng góp rất lớn vào việc tạo ra tinh thần Đông Á. Nó hướng vào phát triển các phẩm chất cá nhân của con người, cũng như tổ chức chính trị của xã hội. Vì Nho giáo là một hiện tượng phức tạp, nên không thể đưa ra một đánh giá nhất quán về nó.

Tinh thần mới của Nho giáo rất giống với đạo đức Kitô và đạo đức lao động phương Tây. Song giữa chúng vẫn có những khác biệt mang tính nguyên tắc. Trung tâm của mọi quan hệ trong Nho giáo là cái tôi, nó không tuyên truyền chủ nghĩa cá nhân mà tuyên truyền trách nhiệm của con người trước một bản chất cấp cao hơn - gia đình, tập thể và nhà nước. Chính vì thế, một số học giả xem Nho giáo là phương tiện có thể phục hồi những giá trị đạo đức bất biến, đã bị đánh mất ở thời đại công nghiệp, ở thời kỳ hiện đại hóa.

Vào cuối thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều vấn đề văn hóa xã hội như: sự tha hóa của con người, tâm trạng bi quan, sự suy đồi đạo đức. Quan hệ giữa người với người nơi làm việc đã đánh mất tính chất nhân cách, ở nhà họ cảm thấy như ở trong chuồng cọp, xu hướng thống trị trong xã hội là thương mại hóa và chủ nghĩa tương đối về đạo đức. Trong điều kiện đó, các giá trị tinh thần và xã hội của Nho giáo có thể trở thành một sức mạnh cải tạo và sáng tạo.

Có người cho rằng, các giá trị Nho giáo giả định vai trò hàng đầu của giáo dục, sự cần thiết của tri thức, nhấn mạnh vai trò của lao động, gia đình, nghĩa vụ và tinh thần quên mình. Người có văn hóa Nho giáo chân chính phải là người rất yêu lao động, có trách nhiệm, thông thạo, sáng tạo, tự trọng. Xét về nhiều phương diện, đạo đức Nho giáo vượt trội hơn hẳn đạo đức phương Tây trong bối cảnh giải quyết nhiệm vụ công nghiệp hóa, bảo đảm sự giàu có và hiện đại hóa.

Hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa kéo theo những vấn đề trầm trọng, đưa tới sự phi nhân đạo hóa quan hệ giữa người với người, phá hại môi trường bao quanh, làm tha hóa đạo đức của con người riêng biệt và của toàn thể xã hội. Trong bối cảnh đó, nhiều học giả đã quan tâm tới vai trò tổng hợp của Nho giáo trong sự phát triển đời sống xã hội của các nước Đông Á. Các giá trị Nho giáo - sự hài hòa, lòng trung thực, sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt xã hội, sự tự hoàn thiện như phương tiện giáo dục ý thức trách nhiệm và tính cần mẫn- được sử dụng làm phương thuốc trị các căn bệnh và ung nhọt của xã hội đang hiện đại hóa. Nho giáo cho phép con người là chính mình, xã hội loài người không biến chất. Điều này đương nhiên là gắn liền với tinh thần nhân đạo của Nho giáo.

Theo M. Weber, đạo đức trách nhiệm của Kitô giáo đưa tới chỗ hình thành tinh thần tháo vát và quan tâm tới sự tìm tòi, khám phá, quá trình hợp lý hóa quản lý toàn xã hội. Quan niệm Kitô giáo về con người cùng với các truyền thống triết học phương Tây cho phép phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế hiện đại, cũng như tiến bộ xã hội nói chung. Theo một số học giả, quan niệm của M. Weber về Nho giáo sẽ dẫn đến khẳng định học thuyết này là không dung hợp được với hiện đại hóa. Tuy nhiên, các học giả cho rằng, đó là một quan niệm sai lầm, trái lại, Nho giáo có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiện đại hóa xã hội. Sở dĩ như thế là vì hiện đại hóa không phải là một quá trình cơ giới đơn giản mà là một cuộc vận động xã hội phức tạp, trong đó có nhiều người tham gia, mỗi người cùng với trí tuệ của mình; và, cần phải né tránh quan niệm đơn giản hóa về bản thân Nho giáo. Quan niệm của nó về tự nhiên, con người và Thượng đế có nhiều phương diện hợp lý có thể phù hợp với quá trình hiện đại hóa, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ kinh tế và công nghệ hiện đại.

Do vậy, sự ảnh hưởng của Nho giáo đến phát triển kinh tế của các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam là mang tính chất đa phương diện, không nên chỉ quy về đạo đức lao động. Đương nhiên, trong quá trình hiện đại hóa, bản thân Nho giáo cũng phải trải qua những biến đổi nhất định, song chúng hoàn toàn không làm cho người ta hoài nghi tư tưởng trung tâm của đạo đức vĩ mô Nho giáo về sự thống nhất của con người và tự nhiên, điều này chắc chắn có ảnh hưởng tích cực tới bản thân quá trình hiện đại hóa.

Nguồn: hoidantochoc.org.vn   (13/07/06)

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.