Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 27/06/2007 00:30 (GMT+7)

Vấn đề môi trường của các dự án nhôm ở Việt Nam

Trữ lượng bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 2,4 tỷ tấn, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (91,4%). Trong đó, Đăk Nông 1,44 tỷ tấn, Lâm Đồng 0,463 tỷ tấn, Gia Lai-Kon Tum 0,285 tỷ tấn.

Đã từ lâu, Dự án nhôm ở Tây Nguyên đã được các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng của Việt Nam và quốc tế xem xét  triển khai. Tuy nhiên, vấn đề bất cập lớn nhất khi triển khai đó là môi trường và sinh thái. Chuyên gia của các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế trước kia, khi xem xét dự án  nhôm ở VN trong khuôn khổ hợp tác đa phương và song phương đều cho rằng dự án sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường  và sinh thái của khu vực trên một diện rộng.

Ngay từ khâu khai thác bauxite do phải tác động vào lớp đất phủ sẽ làm thay đổi điều kiện địa chất thuỷ văn của các tỉnh ven biển Nam Trung bộ (có thể gây ra lũ lớn vào mùa mưa và hạn hán kéo dài vào mùa khô). Kết quả là đất canh tác của nông nghiệp, sau đó là sản lượng lúa sẽ bị giảm đáng kể. Các chuyên gia của Nga đã tính toán rằng, thu hoạch từ bauxite ở Tây Nguyên không đủ bù thất thu về lúa ở các tỉnh ven biển Nam Trung bộ. Ở khâu chế biến alumina, nếu chế biến tại chỗ trên Tây Nguyên sẽ giảm được 2/3 khối lượng vận tải nhưng Việt Nam sẽ phải chứa chất thải của khâu chế biến này trên vùng cao với lượng rất lớn các đuôi quặng thải có hại cho môi trường, luôn có nguy cơ đe doạ các vùng phía dưới. Nếu chế biến alumina dưới vùng ven biển, hoặc để xuất khẩu phải chở quặng bauxite có chứa ít nhất 70% chất không cần thiết trên một cung độ vừa rất lớn vừa không kinh tế đối với các phương tiện vận tải hiện có (khi đó cũng đã sơ bộ khảo sát khả năng mở tuyến đường sắt chở bauxite từ Lâm Đồng ra khu cảng Mũi Né). Khâu sản xuất aluminium (điện phân nhôm) đòi hỏi phải có nhà máy thuỷ điện tại chỗ đủ lớn và đủ rẻ để đáp ứng có hiệu quả cho nhu cầu khoảng 18.000 kWh/1 tấn nhôm, với giá không lớn hơn 2,7 cent/kWh (tính theo định mức tiêu hao và giá thị trường khi đó).

Ảnh hưởng đến môi trường của việc khai thác bauxite

Hiện nay, ở Lâm Đồng, bauxite đang được khai thác phục vụ cho nhà máy hoá chất tại Tân Bình (TP. HCM). Quy mô khai thác không lớn nhưng nếu khai thác bauxite với quy mô công nghiệp, chúng ta phải đối mặt không những với vấn đề môi trường rất nghiêm trọng của Tây Nguyên mà còn phải trả giá cao cho những thay đổi sinh thái của khu vực Nam Trung bộ.

Do điều kiện hình thành tự nhiên (bauxite thường hình thành ở những nơi có khí hậu nhiệt đới-nóng và ẩm), phần lớn các mỏ bauxite của Việt Nam đều nằm trong khu vực rừng đầu nguồn hoặc rừng phòng hộ. Khi khai thác bauxite, trước mắt bắt buộc phải phá huỷ toàn bộ thảm thực vật để bốc đi lớp đất phủ trên bề mặt tới độ sâu 1-5m. Sau đó, sẽ khai thác (cũng bốc đi) lớp khoáng vật chứa bauxite với độ sâu hết chiều dày của thân quặng. Do quá trình khai thác, toàn bộ vùng đồi núi vốn đàng có rừng cây che phủ và giữ độ ẩm ở Tây Nguyên sẽ dần biến thành núi đất trọc, phong hoá, không có khả năng trồng trọt do không giữ được độ ẩm.

Việc hoàn thổ sau khi khai thác đối với các mỏ bauxite (cụ thể tại Tây Nguyên) chỉ mang tính lý thuyết vì lý do kỹ thuật: lớp đất đá phủ bốc đi trước khi khai thác không giữ lại được (chỉ trừ khi chúng ta  tạo ra các bãi thải ở những nơi không có độ dốc và không có nguy cơ trôi để đổ vào); việc hoàn thổ sau khi khai thác sẽ không có ý nghĩa nếu giữa hai mùa mưa chưa phục hồi kịp tầng thực vật như trước khi khai thác. Những nơi khai thác bauxite ở Tây Nguyên có độ dốc trên 25 onằm ở độ cao hàng nghìn mét so với mặt nướ biển lại có mùa mưa lũ cố định hàng năm, việc trôi lấp những lớp đất đá phủ bốc đi trước khi khai thác và lớp đất hoàn thổ sau khi khai thcác sẽ xảy ra trong các mùa mưa thường xuyên hàng năm không thể ngăn chặn được.

Do lớp thực vật bị xâm hại, lớp đất phủ bị trôi lấp, độ ẩm không được giữ lại trên vùng cao Tây Nguyên, nguy cơ lũ lớn trong mùa mưa và hạn hán kéo dài trong mùa không sẽ gia tăng hết sức nguy hiểm.

Như các chuyên gia đã đánh giá, xét về mặt ảnh hưởng xấu đến môi trường, phương pháp khai thác khoáng sản bằng các mỏ lộ thiện có nguy cơ rất cao, có ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường sinh thái. Hiện nay, ở các vùng Cẩm Phả, Hòn Gai (Quảng Ninh) việc đẩy mạnh khai thác than bằng các mỏ lộ thiên để xuất khẩu đã tàn phá môi trường ở mức độ không thể cứu vãn nổi. Tuy những mỏ than đang khai thác ở Quảng Ninh nằm sát biển, không phải là đầu nguồn nước, rừng đầu nguồn, không phải là rừng phòng hộ và không có ảnh hưởng đến canh tác nông nghiệp nhưng đã để lại hậu quả nặng nề. Các mỏ bauxite đều nằm ở các khu vực rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ mà Tây Nguyên là đầu nguồn nước, là nóc nhà của các tỉnh ven biển. Nếu môi trường sinh thái của Tây Nguyên bị tàn phá khi khai thác bauxite dù có ít hơn so với môi trường của Quảng Ninh  đang bị huỷ diệt thì hậu quả vẫn không thể tưởng tượng nổi.

Trước đây, các chuyên gia đã xác định mức độ thiệt hại đối với canh tác nông nghiệp ở các tỉnh ven biển miền Nam Trung bộ khoảng 3 triệu tấn lúa/năm (cái giá phải trả tương đương 1 tấn lúa bị thất thu/1 tấn bauxite được khai thác).

Ảnh hưởng đến môi trường của việc chế biến bauxite thành alumina

Quá trình chế biến bauxite tạo ra rất nhièu chất thải rắn khó phân huỷ có hại cho môi trường. Về mặt thạch học, bauxite Tây Nguyên gồm 3 thành phần chính là gibbsite (hay còn gọi là trihydrate nhôm Al 2O 3.3H 2O), boehmite (hay còn gọi là monohydrate nhôm Al 2O 3.H 2O) và diaspore (có thành phần tương tự như boehmite nhưng cứng hơn).

Quá trình xử lý để chế biến bauxite thành alumina sẽ tạo ra các đuôi quặng không hoà tan chứa các thành phần gồm  các oxit sắt, silic, titanium và các nguyên tố đi kèm như kẽm, phôtpho, nickel và vanadium. Các thành phần này trong chất thải không phân huỷ kể cả trong điều kiện nhiệt độ cao.

Các chất thải này tuy không độc hại  nhưng rất bền vững về mặt hoá học nên có tác động xấu đến môi trường đất. Tỷ lệ chất thải (đuôi quặng) này rất lớn. Tuỳ thuộc vào chất lượng của bauxits và công nghệ chế biến có thể lên tới 2,5 tấn/ 1tấn sảm phẩm alumina. Việc bảo quản các chất thải này để không gây ô nhiễm cho  môi trường đất và nước là rất tốn kém. Đôi khi trong điều kiện ở Tây Nguyên là không khả thi.

Ảnh hưởng tới môi trường của việc sản xuất aluminium.

Quá trình sản xuất tiếp theo là chế biến alumina thành aluminium (điện phân nhôm). Quá trình này có nhiều loại chất thải: chất thải rắn và chất phát thải. Trong số các chất thải rắn, đáng quan tâm là chất thải cathode có khối lượng rất lớn. Chất thải này được hình thành thường xuyên sau mỗi chu kỳ sử dụng của cathode được làm từ các thành phần điện phân và cyanide. Chất thải cathode đòi hỏi phải được chôn cất dưới đất không để tiếp xúc với nước mặt và nước ngầm và phải thường xuyên giám sát theo dõi sự thay đổi về thành phần của chúng. Trong quá trình chờ đợi để chôn cất, chất thải này phải được bảo quản nghiêm ngặt nơi khô ráo. Nhiều nước cũng đã nghiên cứu sử dụng chất thải này cho phát điện hoặc cho các ngành công nghiệp khác như thép, xi măng…

Chất phát thải của quá trình sản xuất nhôm cũng rất nguy hại. Với các thế hệ công nghệ tiên tiến (thế hệ 3-4) các nhà máy sản xuất nhôm có mức độ phát thải vẫn rất cao. Tính bình quân mức độ ô nhiễm sẽ lên tới 0,5-1 kg chất phát thải fluoride/1 tấn nhôm. Chất phát thải flouride có ở hai dạng hỗn hợp vô cơ (Nà, AlF 3, Na 3AlF 6dạng hạt và HF dạng khí) và hỗn hợp hữu cơ (CF4, C 2F 6) dạng khí). Vì các chất phát thải flouride có tác động rất mạnh đến các nguồn thực vật ngành nhôm đòi hỏi phải khử tối thiểu 96-99% chất phát thải này. Mặc dù công nghệ tiên tiến đã hạn chế phát thải nhưng việc ô nhiễm CF4 vẫn ở mức độ cao.

Kết luận

Tất cả các khâu của ngành nhôm (từ khai thác bauxite bằng các mỏ lộ thiên, sản xuất  alumian và điện phân nhôm) đều có ảnh hưởng rất tiêu cực và rất nặng đến môi trường sinh thái. Với xu thế giá alumina trên thế giới đang ngày càng giảm, việc khắc phục các ảnh hưởng xấu này là không khả thi. Để vừa khai thác hiệu quả vừa sản xuất nhôm theo hướng “an toàn cho môi trường” đòi hỏi Nhà nước ta phải  tính toán thật kỹ lưỡng và có công nghệ kỹ thuật hiện đại nhằm giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường đất, nước.

Nguồn: TN&MT

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.