Vấn đề môi trường của các dự án nhôm ở Việt Nam
Trữ lượng bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 2,4 tỷ tấn, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (91,4%). Trong đó, Đăk Nông 1,44 tỷ tấn, Lâm Đồng 0,463 tỷ tấn, Gia Lai-Kon Tum 0,285 tỷ tấn.
Đã từ lâu, Dự án nhôm ở Tây Nguyên đã được các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng của Việt Nam và quốc tế xem xét triển khai. Tuy nhiên, vấn đề bất cập lớn nhất khi triển khai đó là môi trường và sinh thái. Chuyên gia của các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế trước kia, khi xem xét dự án nhôm ở VN trong khuôn khổ hợp tác đa phương và song phương đều cho rằng dự án sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sinh thái của khu vực trên một diện rộng.
Ngay từ khâu khai thác bauxite do phải tác động vào lớp đất phủ sẽ làm thay đổi điều kiện địa chất thuỷ văn của các tỉnh ven biển Nam Trung bộ (có thể gây ra lũ lớn vào mùa mưa và hạn hán kéo dài vào mùa khô). Kết quả là đất canh tác của nông nghiệp, sau đó là sản lượng lúa sẽ bị giảm đáng kể. Các chuyên gia của Nga đã tính toán rằng, thu hoạch từ bauxite ở Tây Nguyên không đủ bù thất thu về lúa ở các tỉnh ven biển Nam Trung bộ. Ở khâu chế biến alumina, nếu chế biến tại chỗ trên Tây Nguyên sẽ giảm được 2/3 khối lượng vận tải nhưng Việt Nam sẽ phải chứa chất thải của khâu chế biến này trên vùng cao với lượng rất lớn các đuôi quặng thải có hại cho môi trường, luôn có nguy cơ đe doạ các vùng phía dưới. Nếu chế biến alumina dưới vùng ven biển, hoặc để xuất khẩu phải chở quặng bauxite có chứa ít nhất 70% chất không cần thiết trên một cung độ vừa rất lớn vừa không kinh tế đối với các phương tiện vận tải hiện có (khi đó cũng đã sơ bộ khảo sát khả năng mở tuyến đường sắt chở bauxite từ Lâm Đồng ra khu cảng Mũi Né). Khâu sản xuất aluminium (điện phân nhôm) đòi hỏi phải có nhà máy thuỷ điện tại chỗ đủ lớn và đủ rẻ để đáp ứng có hiệu quả cho nhu cầu khoảng 18.000 kWh/1 tấn nhôm, với giá không lớn hơn 2,7 cent/kWh (tính theo định mức tiêu hao và giá thị trường khi đó).
Ảnh hưởng đến môi trường của việc khai thác bauxite
Hiện nay, ở Lâm Đồng, bauxite đang được khai thác phục vụ cho nhà máy hoá chất tại Tân Bình (TP. HCM). Quy mô khai thác không lớn nhưng nếu khai thác bauxite với quy mô công nghiệp, chúng ta phải đối mặt không những với vấn đề môi trường rất nghiêm trọng của Tây Nguyên mà còn phải trả giá cao cho những thay đổi sinh thái của khu vực Nam Trung bộ.
Do điều kiện hình thành tự nhiên (bauxite thường hình thành ở những nơi có khí hậu nhiệt đới-nóng và ẩm), phần lớn các mỏ bauxite của Việt Nam đều nằm trong khu vực rừng đầu nguồn hoặc rừng phòng hộ. Khi khai thác bauxite, trước mắt bắt buộc phải phá huỷ toàn bộ thảm thực vật để bốc đi lớp đất phủ trên bề mặt tới độ sâu 1-5m. Sau đó, sẽ khai thác (cũng bốc đi) lớp khoáng vật chứa bauxite với độ sâu hết chiều dày của thân quặng. Do quá trình khai thác, toàn bộ vùng đồi núi vốn đàng có rừng cây che phủ và giữ độ ẩm ở Tây Nguyên sẽ dần biến thành núi đất trọc, phong hoá, không có khả năng trồng trọt do không giữ được độ ẩm.
Việc hoàn thổ sau khi khai thác đối với các mỏ bauxite (cụ thể tại Tây Nguyên) chỉ mang tính lý thuyết vì lý do kỹ thuật: lớp đất đá phủ bốc đi trước khi khai thác không giữ lại được (chỉ trừ khi chúng ta tạo ra các bãi thải ở những nơi không có độ dốc và không có nguy cơ trôi để đổ vào); việc hoàn thổ sau khi khai thác sẽ không có ý nghĩa nếu giữa hai mùa mưa chưa phục hồi kịp tầng thực vật như trước khi khai thác. Những nơi khai thác bauxite ở Tây Nguyên có độ dốc trên 25 onằm ở độ cao hàng nghìn mét so với mặt nướ biển lại có mùa mưa lũ cố định hàng năm, việc trôi lấp những lớp đất đá phủ bốc đi trước khi khai thác và lớp đất hoàn thổ sau khi khai thcác sẽ xảy ra trong các mùa mưa thường xuyên hàng năm không thể ngăn chặn được.
Do lớp thực vật bị xâm hại, lớp đất phủ bị trôi lấp, độ ẩm không được giữ lại trên vùng cao Tây Nguyên, nguy cơ lũ lớn trong mùa mưa và hạn hán kéo dài trong mùa không sẽ gia tăng hết sức nguy hiểm.
Như các chuyên gia đã đánh giá, xét về mặt ảnh hưởng xấu đến môi trường, phương pháp khai thác khoáng sản bằng các mỏ lộ thiện có nguy cơ rất cao, có ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường sinh thái. Hiện nay, ở các vùng Cẩm Phả, Hòn Gai (Quảng Ninh) việc đẩy mạnh khai thác than bằng các mỏ lộ thiên để xuất khẩu đã tàn phá môi trường ở mức độ không thể cứu vãn nổi. Tuy những mỏ than đang khai thác ở Quảng Ninh nằm sát biển, không phải là đầu nguồn nước, rừng đầu nguồn, không phải là rừng phòng hộ và không có ảnh hưởng đến canh tác nông nghiệp nhưng đã để lại hậu quả nặng nề. Các mỏ bauxite đều nằm ở các khu vực rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ mà Tây Nguyên là đầu nguồn nước, là nóc nhà của các tỉnh ven biển. Nếu môi trường sinh thái của Tây Nguyên bị tàn phá khi khai thác bauxite dù có ít hơn so với môi trường của Quảng Ninh đang bị huỷ diệt thì hậu quả vẫn không thể tưởng tượng nổi.
Trước đây, các chuyên gia đã xác định mức độ thiệt hại đối với canh tác nông nghiệp ở các tỉnh ven biển miền Nam Trung bộ khoảng 3 triệu tấn lúa/năm (cái giá phải trả tương đương 1 tấn lúa bị thất thu/1 tấn bauxite được khai thác).
Ảnh hưởng đến môi trường của việc chế biến bauxite thành alumina
Quá trình chế biến bauxite tạo ra rất nhièu chất thải rắn khó phân huỷ có hại cho môi trường. Về mặt thạch học, bauxite Tây Nguyên gồm 3 thành phần chính là gibbsite (hay còn gọi là trihydrate nhôm Al 2O 3.3H 2O), boehmite (hay còn gọi là monohydrate nhôm Al 2O 3.H 2O) và diaspore (có thành phần tương tự như boehmite nhưng cứng hơn).
Quá trình xử lý để chế biến bauxite thành alumina sẽ tạo ra các đuôi quặng không hoà tan chứa các thành phần gồm các oxit sắt, silic, titanium và các nguyên tố đi kèm như kẽm, phôtpho, nickel và vanadium. Các thành phần này trong chất thải không phân huỷ kể cả trong điều kiện nhiệt độ cao.
Các chất thải này tuy không độc hại nhưng rất bền vững về mặt hoá học nên có tác động xấu đến môi trường đất. Tỷ lệ chất thải (đuôi quặng) này rất lớn. Tuỳ thuộc vào chất lượng của bauxits và công nghệ chế biến có thể lên tới 2,5 tấn/ 1tấn sảm phẩm alumina. Việc bảo quản các chất thải này để không gây ô nhiễm cho môi trường đất và nước là rất tốn kém. Đôi khi trong điều kiện ở Tây Nguyên là không khả thi.
Ảnh hưởng tới môi trường của việc sản xuất aluminium.
Quá trình sản xuất tiếp theo là chế biến alumina thành aluminium (điện phân nhôm). Quá trình này có nhiều loại chất thải: chất thải rắn và chất phát thải. Trong số các chất thải rắn, đáng quan tâm là chất thải cathode có khối lượng rất lớn. Chất thải này được hình thành thường xuyên sau mỗi chu kỳ sử dụng của cathode được làm từ các thành phần điện phân và cyanide. Chất thải cathode đòi hỏi phải được chôn cất dưới đất không để tiếp xúc với nước mặt và nước ngầm và phải thường xuyên giám sát theo dõi sự thay đổi về thành phần của chúng. Trong quá trình chờ đợi để chôn cất, chất thải này phải được bảo quản nghiêm ngặt nơi khô ráo. Nhiều nước cũng đã nghiên cứu sử dụng chất thải này cho phát điện hoặc cho các ngành công nghiệp khác như thép, xi măng…
Chất phát thải của quá trình sản xuất nhôm cũng rất nguy hại. Với các thế hệ công nghệ tiên tiến (thế hệ 3-4) các nhà máy sản xuất nhôm có mức độ phát thải vẫn rất cao. Tính bình quân mức độ ô nhiễm sẽ lên tới 0,5-1 kg chất phát thải fluoride/1 tấn nhôm. Chất phát thải flouride có ở hai dạng hỗn hợp vô cơ (Nà, AlF 3, Na 3AlF 6dạng hạt và HF dạng khí) và hỗn hợp hữu cơ (CF4, C 2F 6) dạng khí). Vì các chất phát thải flouride có tác động rất mạnh đến các nguồn thực vật ngành nhôm đòi hỏi phải khử tối thiểu 96-99% chất phát thải này. Mặc dù công nghệ tiên tiến đã hạn chế phát thải nhưng việc ô nhiễm CF4 vẫn ở mức độ cao.
Kết luận
Tất cả các khâu của ngành nhôm (từ khai thác bauxite bằng các mỏ lộ thiên, sản xuất alumian và điện phân nhôm) đều có ảnh hưởng rất tiêu cực và rất nặng đến môi trường sinh thái. Với xu thế giá alumina trên thế giới đang ngày càng giảm, việc khắc phục các ảnh hưởng xấu này là không khả thi. Để vừa khai thác hiệu quả vừa sản xuất nhôm theo hướng “an toàn cho môi trường” đòi hỏi Nhà nước ta phải tính toán thật kỹ lưỡng và có công nghệ kỹ thuật hiện đại nhằm giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường đất, nước.
Nguồn: TN&MT








