Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 06/06/2008 23:52 (GMT+7)

Vai trò của tổ chức tư vấn, môi giới chuyên giao công nghệ đối với doanh nghiệp

Sự phức tạp của CGCN

Trước hết và là điều dễ nhận thấy nhất là khó khăn của doanh nghiệp trước sự phức tạp trong CGCN. Xoay quanh vấn đề công nghệ, các học giả đã từng đưa ra nhiều tranh luận như định nghĩa về công nghệ, CGCN (hàm chứa đằng sau là cách tiếp cận khác nhau), đánh giá đóng góp của công nghệ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế1… Các doanh nghiệp có thể không quan tâm tới những gì mang tính học thuật hoặc tác động ở tầm vĩ mô, nhưng còn có cả những phức tạp khác liên quan trực tiếp đến hoạt động CGCN của doanh nghiệp.

Có nhiều phương thức CGCN khác nhau mà doanh nghiệp phải lựa chọn: Mua thiết bị, hợp đồng trọn gói từ A đến Z (chìa khoá trao tay), liên doanh, mua lixăng, liên kết nghiên cứu và triển khai (NC&TK)... Các phương thức này có liên quan tới lợi ích của các bên và đặc điểm của công nghệ. Thông thường, người bán thích được tham gia cổ phần để có thể giám sát nhiều hơn đối với người mua công nghệ, nhất là đối với những công nghệ quan trọng hoặc đang ở giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm. Trái lại, nếu công nghệ thuộc loại không quan trọng hoặc ở vào giai đoạn cuối của vòng đời sản phẩm thì người bán thích phương thức bán lixăng. Về phía người mua, quyết định lựa chọn phương thức chuyển giao nào lại phụ thuộc chủ yếu vào năng lực công nghệ và các nguồn lực hiện có. Nếu công nghệ định mua đòi hỏi nguồn lực quá cao, người mua thích phương thức liên doanh; nếu người mua có tiềm lực cao, họ không thích bên chuyển giao tham gia cổ phần, trừ khi có những lý do như để tiếp cận thị trường. Lựa chọn đúng phương thức CGCN có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp, bởi như Ramanathan đã chỉ ra, nó giúp cho CGCN có hiệu quả, năng lực công nghệ phát triển và lớn mạnh lên một cách vững chắc2.

Doanh nghiệp phải trải qua những giai đoạn khác nhau của quá trình CGCN. Trong giai đoạn nhận biết cơ hội, doanh nghiệp cần nhận biết được các nhu cầu và lập luận chứng cho việc giao dịch. Giai đoạn lựa chọn đối tác bao gồm: Tìm đối tác, đánh giá và chọn đối tác. Giai đoạn tiếp theo là hoàn thiện phương thức giao dịch với nội dung xác định phương thức CGCN khả thi và chọn phương án giao dịch. Tiếp đến là giai đoạn đàm phán: Doanh nghiệp tiến hành đàm phán các điều khoản của hợp đồng, đồng thời hoàn tất các khía cạnh về pháp lý, nguồn lực và hậu cần.3

Một trong các hoạt động quan trọng trong CGCN là đánh giá công nghệ nhằm lựa chọn một trong số nhiều công nghệ khác nhau để thoả mãn tối ưu những thông số do doanh nghiệp xác định trước. Việc đánh giá này thường diễn ra với 4 bước: Đánh giá sơ bộ, đánh giá khả năng chuyển giao, đánh giá thị trường và đánh giá thương mại. ở đây, có nhiều yếu tố phải xem xét đến. Chẳng hạn, trong đánh giá thị trường (tức là nghiên cứu sản phẩm được tạo ra từ công nghệ nhằm đáp ứng thị trường tiềm năng như thế nào), những yếu tố có liên quan là: Thị trường (nội địa, khu vực, toàn cầu; cũ, mới, có tính chiến lược) mà công nghệ hoặc sản phẩm tạo ra có thể đáp ứng; đánh giá thị phần (giá trị và khối lượng) của sản phẩm tạo ra do công nghệ trong vòng đời công nghệ; chi phí lưu thông, tiếp thị; độ nhạy của công nghệ/sản phẩm đối với biến động/thay đổi của thị trường/công nghệ; các chiến lược cạnh tranh; các đối tác tiềm năng/có tính chiến lược để đảm bảo thành công trên thị trường4...

Trước những phức tạp trên, cùng với các nỗ lực xử lý của doanh nghiệp, sự trợ giúp từ bên ngoài của tổ chức tư vấn, môi giới CGCN là rất cần thiết và hữu ích.

CGCN là hoạt động “không chuyên” của doanh nghiệp

CGCN không phải chỉ có nhiều thông tin phải xử lý và thể hiện sự phức tạp, mà còn liên quan tới một số vấn đề khá xa lạ đối với các doanh nghiệp - loại hình tổ chức vốn quen với hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ thông thường. Đó là cảnh báo công nghệ5; đánh giá công nghệ; môi trường pháp lý liên quan tới CGCN; chính sách phát triển công nghệ và CGCN của nước xuất và nhập công nghệ... CGCN đòi hỏi phải có hiểu biết sâu sắc, hệ thống về công nghệ và môi trường pháp lý để có những quyết sách chính xác, kịp thời. Lấy ví dụ, thông thường, cơ quan có thẩm quyền của mỗi quốc gia (hệ thống hành chính hoặc hệ thống toà án) được phép tự do hành động với một phạm vi rộng trong việc xem xét tính hợp pháp của các hợp đồng CGCN. Nếu hợp đồng có các điều khoản thương mại không lành mạnh thì sẽ bị coi là vô hiệu. Hậu quả tất yếu là không thể tiến hành việc thanh toán ngoại hối, không có sự bồi thường về mặt pháp lý - một rủi ro mà bất kỳ nhà doanh nghiệp nào cũng phải biết để phòng xa khi tham gia các hợp đồng CGCN với các đối tác nước ngoài.

Không thể phủ nhận rằng hiện nay đã có những doanh nghiệp chú trọng phát triển hoạt động NC&TK, tăng cường thu thập thông tin công nghệ. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những nỗ lực đồng thời hướng vào các lĩnh vực khác nhau đang đặt doanh nghiệp trước nhiều mâu thuẫn. Nổi bật là mâu thuẫn giữa chú trọng kế hoạch hoá quá trình sản xuất ngắn hạn, bám sát vào thực tại và đi vào giải quyết những sự cố kỹ thuật cụ thể với việc phải tiếp cận được với kiến thức khoa học của những tổ chức khoa học và công nghệ hàng đầu, đòi hỏi phải có khả năng tiến hành những nghiên cứu giàu trí tưởng tượng (thoát ly khỏi thực tế hiện tại) và phải tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự đổi mới, sáng tạo...

Như vậy, sự hỗ trợ của các tổ chức tư vấn, môi giới CGCN sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hơn vị thế và hiệu quả trong đàm phán mua/bán công nghệ.

Khó khăn trong thống nhất lợi ích giữa các bên trong CGCN

Cũng như trao đổi hàng hoá nói chung, CGCN được diễn ra trên cơ sở đồng thuận lợi ích giữa các bên tham gia. Đồng thời, nó cũng tồn tại sự khác biệt nhất định khiến việc thống nhất lợi ích trở nên khó khăn:

- Trong CGCN có nhiều yếu tố cần tính toán lợi ích, ít yếu tố liên quan đến chi phí thuần tuý về tri thức công nghệ, còn hầu hết các yếu tố khác là về các dịch vụ có liên quan như cung cấp các chi tiết, phụ kiện, thiết bị, đặc quyền kinh doanh, nhãn hàng, các dịch vụ chuyên môn4...

- Trong CGCN, các bên thường có động cơ và chiến lược riêng của mình. Do công nghệ là vũ khí cạnh tranh tiềm tàng quan trọng, nên nhiều khi nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm liên quan tới công nghệ chuyển giao cũng là nội dung được chú ý trong đàm phán.

- Khoảng cách sẽ càng rõ nét khi CGCN diễn ra giữa giới khoa học và giới kinh doanh, bởi các nhà khoa học thường đánh giá quá cao sản phẩm nghiên cứu và có xu hướng muốn phổ biến rộng kết quả khoa học do mình tạo ra.

Hiện tại, có nhiều phương pháp định giá công nghệ khác nhau: Phương pháp tiếp cận từ góc độ kinh tế của bên cung, phương pháp tiếp cận từ góc độ của bên cầu, phương pháp tiếp thị (tạo nhu cầu thị trường), phương pháp định giá thay thế, phương pháp định giá giá trị bán lại trong tương lai4... ẩn chứa đằng sau các phương pháp định giá này chính là sự giằng co giữa các lợi ích khác nhau.

Những khó khăn về thống nhất lợi ích giữa bên mua và bên bán có thể khắc phục phần nào với sự hỗ trợ của tổ chức tư vấn, môi giới CGCN. Đóng vai trò trung gian, các tổ chức này có những ưu thế để đưa ra các ý kiến công bằng, vì lợi ích của cả hai bên.

CGCN đòi hỏi phải có mối quan hệ bền vững giữa bên giao và bên nhận

Khác với mua/bán hàng hoá thông thường, CGCN đòi hỏi những quan hệ sâu sắc, lâu dài giữa các bên chuyển giao và tiếp nhận. Hàng hoá công nghệ là loại hàng hoá đặc biệt. Trong khi người bán biết rõ hàng hoá của mình, thì người mua thường có rất ít thông tin về chất lượng thực của hàng hoá được mang trao đổi. Giá trị sử dụng của công nghệ chỉ thực sự bộc lộ trong quá trình sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ. Trước một đối tượng khá bí ẩn, quan hệ tin tưởng lẫn nhau có ý nghĩa quan trọng giúp việc chuyển giao diễn ra trôi chảy.

CGCN bao hàm cả việc chuyển giao, hấp thụ kiến thức mới của phía tiếp nhận. Sau hành vi mua/bán, còn có cả những hoạt động thiếp theo như đào tạo, sửa chữa... thể hiện mối quan hệ gắn bó lâu dài của những người tham gia. Trường hợp người tiếp nhận tiếp tục cải tiến, phát triển công nghệ được chuyển giao và cần sự hợp tác từ phía chuyển giao, quan hệ giữa các bên càng phải bền chặt.

Người có hàng hoá công nghệ dễ bị tổn thương về mặt sở hữu và lợi ích. Tri thức công nghệ có những điểm khác với hàng hoá truyền thống. Tính chất “không loại trừ” và “không thể bị loại trừ” - theo cách gọi của các nhà kinh tế - thường làm tách rời giữa quyền sở hữu pháp lý và quyền sở hữu thực tế.

Chính vì vậy, trong CGCN người ta nhấn mạnh thuật ngữ “Đối tác” với ý nghĩa là mua/bán công nghệ cần quan hệ mật thiết hơn nhiều so với “mua đứt - bán đoạn”, một sự hợp tác trên cơ sở bền vững3. Việc hình thành quan hệ hợp tác bền vững rất cần trợ giúp từ tổ chức tư vấn, môi giới CGCN giống như những “bà mối”. Bà mối là người có điều kiện đi sâu tìm hiểu các bên, là người làm chứng và bảo lãnh uy tín của các bên tham gia CGCN.

Tài liệu tham khảo và chú thích

1 Trần Thanh Lâm: “Quản trị công nghệ”, Nxb Văn hoá Sài Gòn, năm 2006, trang 12, 15 và 117.

2 Ramanathan. K: “Application of Industria Technological Indicators”, in Science and Technology Management Informtion Systems, N. Sharif and K. Ramanathan, eds., UNDP - UNESCO - Indonesian Institute of Sciences, Jarkarta, 1994.

3 Tổng luận Khoa học - Kỹ thuật - Kinh tế, số 2.1999, trang 20 - 22.

4 Tổng luận Khoa học - Kỹ thuật - Kinh tế, số 3.1999, trang 3, 11.

5 Cảnh báo công nghệ (Veille Technologique) là một nội dung của đánh giá công nghệ nhằm thấy trước mặt lợi, hại để từ đó ngăn ngừa, đối phó với những hậu quả tiêu cực có thể có do một công nghệ cụ thể, hay một thế hệ công nghệ, một dòng công nghệ hoặc một công nghệ mới gây ra cho sản xuất, đời sống và xã hội.

Nguồn: T/c Hoạt động khoa học, 4/2008

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.