Đại hội lần thứ II Liên hiệp Hội Việt Nam - bước chuyển trong những năm đầu đổi mới
---
Ngày 12/5/1988, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Diễn ra trong những năm đầu của công cuộc Đổi mới, Đại hội đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của Liên hiệp Hội Việt Nam sau 5 năm xây dựng nền móng, mở ra một giai đoạn mới trong tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệtham gia xây dựng và phát triển đất nước.
Năm năm đặt nền móng cho “mái nhà chung” của trí thức KH&CN
Ngày 26/3/1983, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội. Từ 15 tổ chức hội thành viên ban đầu, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và kỹ thuật Việt Nam từng bước được hình thành, với GS.VS Trần Đại Nghĩa là Chủ tịch đầu tiên. Ngày 29/7/1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 121/HĐBT cho phép Liên hiệp Hội Việt Nam chính thức thành lập và hoạt động.
Những năm đầu tiên là một giai đoạn không ít khó khăn. Tổ chức còn mới, bộ máy cơ quan thường trực nhỏ, cơ sở vật chất và nguồn lực hạn chế; phương thức tập hợp, phối hợp hoạt động giữa các hội khoa học và kỹ thuật cũng phải vừa làm, vừa hoàn thiện. Tư liệu của Liên hiệp Hội Việt Nam ghi nhận thời kỳ đầu cơ quan chỉ có chưa đến 10 người, phần lớn cán bộ làm việc trong những điều kiện còn rất thiếu thốn.
Tuy nhiên, chính trong những năm “khởi đầu nan” ấy, nền móng của Liên hiệp Hội Việt Nam đã từng bước được củng cố.
Từ 15 tổ chức hội thành viên khi mới thành lập, đến năm 1988, Liên hiệp Hội Việt Nam đã có 23 hội thành viên, gồm 18 hội khoa học và kỹ thuật ngành Trung ương và 5 Liên hiệp Hội địa phương. Sự xuất hiện và phát triển của các Liên hiệp Hội địa phương cho thấy mô hình tập hợp trí thức không chỉ mở rộng theo ngành, lĩnh vực mà đã bắt đầu phát triển theo địa bàn, từng bước tạo dựng mạng lưới của Liên hiệp Hội Việt Nam trong cả nước.
Đó là tiền đề quan trọng để Liên hiệp Hội Việt Nam bước vào Đại hội lần thứ II với một vị thế, quy mô và yêu cầu phát triển mới.
Đại hội lần thứ II - bước chuyển trong giai đoạn đổi mới
Ngày 12/5/1988, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, nhiệm kỳ 1988-1993, chính thức khai mạc.
Có trên 100 đại biểu tham dự Đại hội, đại diện cho 23 hội thành viên, gồm 18 hội khoa học và kỹ thuật ngành Trung ương và 5 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, thành phố.
Đại hội vinh dự được đón Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều đồng chí lãnh đạo các cơ quan Trung ương đến dự và phát biểu chỉ đạo. Sự hiện diện của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước thể hiện sự quan tâm đối với đội ngũ trí thức khoa học và kỹ thuật cũng như tổ chức đại diện, tập hợp lực lượng trí thức trong thời điểm đất nước đang đứng trước những yêu cầu đổi mới mạnh mẽ.

Các đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ II
Đại hội cũng đón tiếp các đoàn đại biểu quốc tế của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ sư Liên Xô, Hội Kiến thức Liên Xô và Hội Phổ biến kiến thức Bungari, thể hiện những bước phát triển ban đầu trong quan hệ và hợp tác quốc tế của Liên hiệp Hội Việt Nam.
Nếu Đại hội lần thứ nhất năm 1983 mang ý nghĩa khai sinh và đặt nền móng, thì Đại hội lần thứ II diễn ra khi tổ chức đã trải qua 5 năm hoạt động thực tiễn. Đây là thời điểm cần nhìn lại mô hình tổ chức, hoàn thiện cơ chế hoạt động và xác định rõ hơn con đường phát triển của Liên hiệp Hội Việt Nam trong bối cảnh mới.

Hoàn thiện tổ chức, mở rộng không gian hoạt động
Tại Đại hội, các đại biểu đã xem xét và thông qua Báo cáo của Ban Chấp hành; Điều lệ được bổ sung, sửa đổi; Quy chế tổ chức và hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Việc bổ sung, hoàn thiện các văn kiện tổ chức cho thấy Liên hiệp Hội Việt Nam đã bước sang giai đoạn phát triển có tính hệ thống hơn sau 5 năm đầu xây dựng.
Đại hội bầu Hội đồng Trung ương gồm 49 ủy viên, đại diện cho các hội thành viên, Cơ quan thường trực Liên hiệp Hội Việt Nam và các cơ quan hữu quan. Hội đồng Trung ương bầu Đoàn Chủ tịch gồm 9 ủy viên.
GS.TS Hà Học Trạc được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam khóa II. TS Trịnh Văn Tự và TS Phạm Sĩ Liêm được bầu làm Phó Chủ tịch; TS Trịnh Văn Tự đồng thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký. Từ năm 1990, Cử nhân Trần Cư đảm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký.
Đại hội đồng thời suy tôn GS.VS Trần Đại Nghĩa làm Chủ tịch danh dự Liên hiệp Hội Việt Nam. Đây là sự trân trọng đặc biệt đối với vị Chủ tịch đầu tiên, người đã có công lớn trong việc vận động, xây dựng và đặt nền móng cho tổ chức trong nhiệm kỳ 1983-1988.

GS.TS Hà Học Trạc được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam khóa II
Đồng hành cùng những năm đầu Đổi mới
Đại hội II của Liên hiệp Hội Việt Nam diễn ra ở một thời điểm đặc biệt. Yêu cầu đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý và huy động các nguồn lực xã hội đặt đội ngũ trí thức trước những nhiệm vụ ngày càng lớn.
Trong bối cảnh đó, phạm vi đóng góp của Liên hiệp Hội Việt Nam từng bước vượt khỏi khuôn khổ giao lưu nghề nghiệp giữa các hội. Đội ngũ chuyên gia và các hội thành viên ngày càng tham gia sâu hơn vào việc đóng góp ý kiến đối với những vấn đề khoa học, kỹ thuật, kinh tế và xã hội của đất nước.
Trong nhiệm kỳ II, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tập hợp chuyên gia của các hội thành viên tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Đảng và Nhà nước. Hoạt động này từng bước hình thành một hướng hoạt động có ý nghĩa lâu dài của Liên hiệp Hội Việt Nam: huy động trí tuệ chuyên gia để tư vấn, phản biện đối với các vấn đề phát triển quan trọng.
Một dấu mốc đáng chú ý là năm 1992, Liên hiệp Hội Việt Nam thực hiện tư vấn, phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật Công trình thủy điện Yaly trên sông Sê San, Gia Lai. Đây là một trong những hoạt động cho thấy tiếng nói khoa học của đội ngũ trí thức bắt đầu tham gia ngày càng cụ thể vào những công trình và quyết sách phát triển lớn.
Cũng trong nhiệm kỳ này, hoạt động hợp tác quốc tế được chú trọng. Liên hiệp Hội Việt Nam cùng một số hội chuyên ngành, trong đó có các tổ chức trong lĩnh vực cơ khí, xây dựng, bắt đầu tham gia hoạt động của Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO), góp phần mở rộng quan hệ nghề nghiệp và khoa học với khu vực.
Đặc biệt, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc - cơ quan ngôn luận của Liên hiệp Hội Việt Nam, diễn đàn của giới trí thức - được hình thành trong giai đoạn này, tạo thêm một phương tiện để chuyển tải tiếng nói của các nhà khoa học và phổ biến tri thức đến xã hội.
Những hoạt động ấy cho thấy một sự chuyển biến quan trọng: từ mục tiêu ban đầu là tập hợp và điều hòa hoạt động của các hội thành viên, Liên hiệp Hội Việt Nam từng bước mở rộng vai trò sang tư vấn, đóng góp chính sách, phổ biến tri thức, hợp tác quốc tế và trực tiếp tham gia những vấn đề phát triển của đất nước.
Từ 23 hội thành viên đến một mạng lưới ngày càng rộng mở
Một trong những dấu ấn rõ nét nhất của giai đoạn Đại hội II là sự phát triển nhanh chóng về tổ chức.
Nếu tại Đại hội II năm 1988, Liên hiệp Hội Việt Nam có 23 hội thành viên, thì đến Đại hội III năm 1993, con số này đã tăng lên 42 hội thành viên, gồm 34 hội khoa học và kỹ thuật chuyên ngành và 8 Liên hiệp Hội địa phương.
Sự phát triển đó không chỉ phản ánh sự gia tăng về số lượng. Quan trọng hơn, cấu trúc tổ chức của Liên hiệp Hội Việt Nam ngày càng thể hiện tính liên ngành và liên vùng, kết nối các lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật với mạng lưới trí thức ở các địa phương.
Các hội thành viên trở thành nơi tập hợp những nhà khoa học đang làm việc tại viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở sản xuất và nhiều lĩnh vực khác. Nhiều nhà khoa học cao tuổi sau khi nghỉ công tác vẫn tiếp tục tham gia hoạt động hội, đóng góp kinh nghiệm và trí tuệ cho xã hội.
Đây là một đặc điểm quan trọng làm nên sức mạnh của Liên hiệp Hội Việt Nam: nguồn lực không chỉ nằm trong bộ máy tổ chức mà trước hết nằm ở trí tuệ và sự tự nguyện cống hiến của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học.
Một chặng đường, một giá trị được tiếp nối
Từ Đại hội lần thứ II năm 1988 đến ngày hôm nay, nhiều vấn đề được đặt ra khi ấy vẫn mang ý nghĩa nền tảng đối với Liên hiệp Hội Việt Nam: làm thế nào tập hợp được những trí thức giỏi; làm thế nào biến sức mạnh của từng nhà khoa học, từng hội chuyên ngành thành sức mạnh của cả hệ thống; làm thế nào để tiếng nói khoa học đến được với quá trình hoạch định chính sách và để tri thức thực sự phục vụ sản xuất, đời sống và Nhân dân.
Qua từng nhiệm kỳ, quy mô tổ chức, phương thức hoạt động và vị thế của Liên hiệp Hội Việt Nam không ngừng thay đổi, nhưng sợi chỉ xuyên suốt vẫn là tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ phục vụ Tổ quốc và Nhân dân.









