Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 09/09/2011 21:06 (GMT+7)

Vai trò của hồ củng mạc trong điều chỉnh nhãn áp ở bệnh nhân glôcôm nguyên phát

Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho biết tỷ lệ thành công của phẫu thuật CBCM đầu tiên đã thấp dần theo thời gian. Một phân tích mới đây thuộc đa trung tâm khi theo dõi 3 tháng của hậu phẫu cho thấy 50% người bệnh phải điều trị nội khoa trở lại. Vì vậy phẫu thuật CBCM hiện nay không phải là một phương pháp lý tưởng đúng nghĩa với tỷ lệ thành công, do đó muốn có kết quả tốt hơn phải dùng thêm các thuốc chống phân bào.

Tạo hồ củng mạc trong phẫu thuật CBCM cải tiến:

Sau phẫu thuật CBCM, chúng tôi nhận thấy có thất bại ở một số bệnh nhân, như nhãn áp sau mổ không điều chỉnh, cần phải điều trị nội khoa phối hợp. Nguyên nhân thất bại là do sự bít tắt lỗ dò sau mổ. Nhằm tăng hiệu quả của phẫu thuật CBCM, chúng tôi thực hiện phẫu thuật CBCM cải tiến nhằm mở rộng cửa sổ dẫn lưu thủy dịch tại khoang dưới củng mạc. Phương pháp mổ giống như phẫu thuật CBCM nhưng sau khi tạo vạt củng mạc thứ nhất, chúng tôi sẽ tạo thêm vạt củng mạc thứ 2 và cắt bỏ vạt củng mạc thứ 2 kích thước 2 x 3mm. Như vậy sẽ tạo thành một hồ củng mạc dưới vạt củng mạc thứ nhất và hồ củng mạc dưới vạt củng mạc ở vùng phẫu thuật sẽ có tác dụng ngăn chặn sự tăng sinh các tổ chức xơ gây bít tắt lỗ dò. Chúng tôi đã triển khai nghiên cứu CBCM cải tiến và nhận thấy thành công của phẫu thuật rất cao, kết quả 100% bệnh nhân sau mổ nhãn áp được điều chỉnh tốt, tạo sẹo bọng kết mạc đẹp.

Vài trò hồ củng mạc trong kỹ thuật cắt bè củng mạc cải tiến:

- Sinh lý lưu thông thủy dịch

Thủy dịch là một chất lỏng trong suốt do các nếp thể mi sản sinh ra. Thủy dịch giữ hai chức năng quan trọng và duy trì nhãn cầu để ổn định chức năng quang học của mắt, dinh dưỡng cho giác mạc và thể thủy tinh. Thủy dịch được tạo ra là do sự kết hợp của các cơ chế vận chuyển tích cực, siêu lọc và khuếch tán đơn thuần với lưu lượng 2-3 Ml/phút. Tuy nhiên tốc độ sản xuất thủy dịch bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự toàn vẹn của hàng rào máu thủy dịch, lưu lượng máu vào thể mi và sự điều hòa thần kinh thể dịch của mạch máu và biểu mô thể mi.

+ Lưu thông thủy dịch qua lỗ đồng tử:

Thủy dịch từ hậu phòng di chuyển qua lỗ đồng tử ra tiền phòng sau đó lưu thông ra ngoài nhãn cầu.

+ Lưu thông thủy dịch qua vùng bè:

Thủy dịch từ tiền phòng chảy qua vùng bè và ống Schlemm rồi vào tĩnh mạch nước đến tĩnh mạch lớp (đám rối tĩnh mạch), tĩnh mạch chung rồi đi vào hệ thống mạch máu. Khoảng 80% lượng thủy dịch thoát ra khỏi mắt theo con đường này.

+ Lưu thông thủy dịch qua màng bồ đào củng mạc:

Ở mắt bình thường, phần thủy dịch không lưu thông qua vùng bè sẽ thoát qua màng bồ đào củng mạc. Từ đó thủy dịch ra khỏi mắt qua củng mạc hoặc đi theo các dây thần kinh và các mạch máu xuyên củng mạc. Khoảng 20% lượng thủy dịch của mắt thoát theo con đường này.

- Vai trò và tác dụng hồ củng mạc trong kỹ thuật CBCM cải tiến:

Có 3 cửa số lưu thông thủy dịch được tạo ra trong kỹ thuật CBCM đó là :

+ Cửa sổ mống mắt

+ Cửa sổ vùng bè.

+ Cửa sổ thứ ba bao gồm khe dưới nắp vạt củng mạc được tách ra và các lỗ hổng chứa thủy dịch dưới vạt củng mạc, được bao phủ bên ngoài là kết mạc, bao Tenon, một phần thủy dịch thấm ra dưới kết mạc, tỏa lan và xa vùng rìa. Trong quá trình lành bệnh, cửa sổ thứ ba sẽ tạo thành một sẹo bọng thực tế là một bọng phồng kết mạc, nó cho phép thủy dịch thẩm thấu ra khỏi nhãn cầu bên dưới kết mạc, do đó làm giảm áp lực nội nhãn.

Ưu điểm kỹ thuật CBCM cải tiến

Về ưu điểm phẫu thuật CBCM là phẫu thuật điều chỉnh nhãn áp tác động trên cơ chế bệnh sinh của glôcôm là làm giảm trở lưu thủy dịch, thông qua việc tạo thêm một đường dẫn lưu thủy dịch mới, các cửa sổ thoát thủy dịch được kết nối liên tục. Bên cạnh đó phẫu thuật CBCM còn có vạt củng mạc sau mổ khá chắc chắn và đẹp. Tuy nhiên, nhược điểm của phẫu thuật CBCM là sự xơ hóa sẹo bọng kết mạc sau mổ thường xảy ra ở cửa sổ thứ 3, sẹo bọng kết mạc sẽ bị bít tắc, nhiều khi sự xơ hóa còn sâu cả vào cửa sổ thứ 2 và đó chính là nguyên nhân của thất bại phẫu thuật CBCM.

Nhằm hạn chế biến chứng bít lỗ dò sau phẫu thuật CBCM nhiều cải tiến kỹ thuật không ngừng được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới như CBCM kèm đặt van Ahmed, đặt Implant, Collagen, cắt củng mạc sâu kèm đặt van Express (2010) hoặc phối hợp với các chất chống phân bào như Mytomycin C, 5FU, nhiều báo cáo đã được công bố với tỷ lệ thành công của phẫu thuật là 67% - 84%. Như vậy, không có phẫu thuật nào điều chỉnh nhãn áp hoàn toàn, bên cạnh đó xuất hiện thêm những biến chứng nguy hiểm như hoại tử, nhiễm trùng do những vật liệu phụ trợ bằng kim loại, van Collagen, chất chống chuyển hóa, chưa kể đến các vật liệu nhân tạo có chi phí rất cao.

Ưu điểm của kỹ thuật CBCM cải tiến so với các kỹ thuật đang triển khai trên thế giới hiện nay là không lệ thuộc vào các vật liệu phụ trợ, dễ thực hiện, chi phí thấp.

Về sự thành công của phẫu thuật CBCM cải tiến đang được triển khai tại Bệnh viện Mắt Bình Định, chúng tôi nhận thấy là nhờ vai trò của khoang trống được tạo ra dưới vạt củng mạc chứa thủy dịch và nhờ có khoang trống này, dính trong quá trình lành bệnh là nguyên nhân của thất bại trong phẫu thuật CBCM hiện nay.

Chúng tôi thực hiện một cải tiến mở rộng cửa sổ thứ 3 bằng cách tạo một hồ củng mạc rỗng dưới vạt củng mạc và nhận thấy kết quả sau mổ sẹo bọng được tạo rất đẹp, phồng hơn hẳn so với kỹ thuật CBCM cũ mà chúng tôi thường xuyên sử dụng, nhãn áp sau mổ được điều chỉnh tốt.

Về cơ chế dẫn lưu thủy dịch sau mổ thì phẫu thuật CBCM cải tiến hoàn toàn giống với cơ chế giảm trở lưu thủy dịch của phẫu thuật CBCM. Tuy nhiên nó làm cho cửa sổ thứ 3 rộng hơn do việc tạo ra một khoang trống dưới vạt củng mạc. Chúng tôi nhận thấy đây là một ưu thế và hồ củng mạc được tạo ra có vai trò như một hệ thống van phụ chứa thủy dịch giúp cho sự xơ dính sau mổ không xảy ra.

Xét về kỹ thuật, phẫu thuật CBCM cải tiến của chúng tôi là phẫu thuật trung gian giữa phẫu thuật CBCM cổ điển và phẫu thuật CBCM phối hợp với cắt củng mạc sâu (Trabeculectomy combined with Deep Sclerotomy). Trong phẫu thuật này người ta cắt bỏ toàn bộ lớp củng mạc sâu tới quá vùng bè giác mạc. Chúng tôi nhận thấy nếu cắt bỏ toàn bộ lớp củng mạc sâu thì sẽ tạo khoang trống quá rộng sẽ dễ gây xẹp tiền phòng sau mổ. Chúng tôi chỉ tạo một khoang trống vừa phải kích thước 2 x 3mm là đủ điều chỉnh nhãn áp. Như vậy, giữa hai vùng cắt bỏ sẽ có một phần củng mạc sâu để lại, điều này sẽ hạn chế những nhược điểm xẹp tiền phòng sau mổ.

Kết luận

Hồ củng mạc được tạo ra trong phẫu thuật CBCM cải tiến đã cho kết quả thành công cao trong điều trị bệnh Glôcôm nguyên phát. Đây là kỹ thuật an toàn, điều chỉnh được nhãn áp theo cơ chế bệnh sinh. Kết quả ban đầu đã cho thấy hiệu quả tốt hơn kỹ thuật mổ Glôcôm hiện nay trên thế giới.

Nghiên cứu tiếp theo về kết quả lâu dài cần được tiến hành và hy vọng phẫu thuật này sẽ là một trong những lựa chọn hàng đầu của các phẫu thuật viên khi thực hiện phẫu thuật Glôcôm.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.