Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 29/05/2012 21:00 (GMT+7)

Vài suy nghĩ về Chính phủ Điện tử Việt Nam

1-Chúng ta đang ở đâu?

Theo báo cáo của Liên hợp quốc “Khảo sát về chính phủ điện tử” năm 2010 iivà 2012 iii, Việt nam có các chỉ số sau:

Năm

Chỉ số phát triển CPĐT

(E-government development index value )

Thứ hạng toàn cầu

(World e-gov.development ranking)

2008

0.4558

91

2010

0.4454

90

2012

0.5217

83

Xét riêng năm 2012, chúng ta xếp dưới Trung quốc (78), Peru (82), trên Seychelles (84), Philipine (88), Thái lan (92) và Indonesia (97); đứng thứ 4 trong 11 nước vùng Đông Nam Á; đứng thứ 83 trong 191 nước được xếp hạng.

Theo tổng kết tình hình trong nước iv“ đã có tới 94.000 dịch vụ công trực tuyến được cung cấp ở mức độ 1-2, 775 dịch vụ được cung cấp ở mức độ 3 và một số dịch vụ đã được cung cấp ở mức độ 4, quy trình thủ tục một cửa đạt tỷ lệ 87%”

Tất cả những con số trên mới chỉ là thống kê hình thức. Nó chưa phản ánh chất lượng thực, mức độ sử dụng và sự hài lòng của người dân. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy một khối lượng công việc đáng kể đã được thực hiện.

Điều đáng lưu tâm là khối lượng công việc trên về mặt kỹ thuật được thực hiện theo kiểu “phân tán”, “tự phát”. Ngoài các chủ trương chung, chưa có một cơ chế chỉ đạo toàn quốc. Các tỉnh, bộ, ngành tự triển khai theo cách hiểu riêng của mình, phù hợp với môi trường riêng của mình. Đó là điều sẽ gây khó khăn rất lớn cho các giai đoạn sau.

Ngay trong báo cáo nói trên của LHQ năm 2012, trong một số chỉ tiêu khác thứ hạng của chúng ta cũng không phải là cao.

Mặt khác, CPĐT là một lĩnh vực chưa phải là lâu ngay cả với thế giới. Cuối những năm 90, trào lưu này mới bắt đầu và suốt từ đó cho đến nay vẫn trong quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm, thích ứng với các công nghệ mới, xuất hiện các xu hướng mới, yêu cầu mới. Việc chúng ta cần liên tục cập nhật, cải tiến cũng là chuyện bình thường.

2-Cần làm gì?

Năm 2012 là một năm bản lề. Đất nước chúng ta lâm vào những khó khăn lớn, nhìn ra những điểm yếu và đang có những quyết tâm đổi mới quan trọng. Riêng về ICT có hai sự kiện:

* Cuối năm 2011, Chính phủ ra nghị quyết 30c/NQ-CP vban hành “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, trong đó nêu các nhiệm vụ rất cụ thể về ứng dụng công nghệ ICT vào hiện đại hóa quản lý nhà nước.

* Đầu năm 2012, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài viết quan trọng nêu quan điểm chỉ đạo tái cơ cấu nền kinh tếvi. Trong đó có nói rõ đặc điểm thứ ba của nền kinh tế thị trường: “ thực hiện công khai minh bạch và trách nhiệm giải trìnhvề các chính sách quản lý, các đề án phát triển cũng như trong hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Công khai minh bạch không những tạo cơ hội bình đẳng trong tiếp cận thông tin,mà quan trọng hơn, sẽ tạo điều kiện cho người dân giám sát các quyết định của các cơ quan quản lý, là biện pháp cơ bản để ngăn ngừa tham nhũng và sự tác động của các “nhóm lợi ích” vào quá trình ra quyết định.” Trong những đoạn nhấn mạnh trên, vai trò của CPĐT rất quan trọng. Quan điểm này rất giống với “Chính phủ minh bạch và mở” của Mỹ viicũng thực hiện bằng các công cụ ITC.

Trước những thay đổi quan trọng như vậy, CPĐT cũng cần có những bước ngoặt về chất phù hợp.

Từ trên xuống hay từ dưới lên?

Trong xây dựng CPĐT có hai cách làm: từ trên xuống (Singapor, Trung quốc,…) và từ dưới lên (Mỹ, Philipine,…). Mỗi cách có ưu nhược điểm riêng và được lựa chọn tùy thuộc vào đặc điểm từng nước, đặc biệt là vào hoạt động của hệ thống chính trị và năng lực công nghệ của các thành phần chính phủ viii.

Những nước có chính quyền trung ương tập trung mạnh và/hoặc các cấp dưới (bộ, ngành, tỉnh, thành phố) yếu về công nghệ, cách triển khai chỉ huy thống nhất từ trên xuống là phù hợp.

Những nước có hệ thống phân quyền mạnh và/hoặc các cấp dưới mạnh về công nghệ, cách làm từ dưới lên hiệu quả hơn.

Nước ta cho đến thời điểm này CPĐT được triển khai theo cách từ dưới lên là chính. Nay đã đến lúc có những biện pháp theo hướng từ trên xuống một cách phù hợp.

Điều đó không có nghĩa là thay đổi 180 độ, chỉ huy tất cả, kiểm soát tất cả theo một cơ chế tập trung “cứng”. Nhưng cũng không có nghĩa là “khoán gọn” cho các nơi làm. Với đặc điểm nước ta, hài hòa được cả hai cách là hợp lý nhất.

Ngay cả Mỹ, làm theo cách từ dưới lên là chính cũng có Khung Kiến trúc Liên bang để chỉ đạo chung.

Có thể ví “thành phố CPĐT” hiện đã xuất hiện nhiều khu dân cư ít nhiều tự phát. Đã đến lúc cần có chiến lược phát triển và quy hoạch tổng thể để định hướng tương lai. Nếu không hậu quả sẽ như tình trạng đô thị hiện thời.

Vì tất cả những điều đã nói trên, những cái nên làm là:

1.Một chiến lược quốc gia về CPĐT.

2.Một khung kiến trúc và/hoặc kiến trúc quốc gia về CPĐT và các hướng dẫn xây dựng kiến trúc cho các cấp dưới.

3.Một hệ thống tổ chức và cơ chế chỉ đạo, hỗ trợ triển khai hai thứ trên và kiểm soát tập trung những cái cần tập trung trong phạm vi cả nước.

3-Chiến lược quốc gia về CPĐT

Có lẽ không cần phải nói về tầm quan trọng và sự cần thiết phải có một chiến lược quốc gia về CPĐT. Khảo sát 20 nước tiêu biểu về CPĐT cho thấy hầu hết đều có chiến lược quốc gia ix. Có thể tham khảo chiến lược một số nước tại đây x

Có hai điểm cần lưu ý khi xây dựng chiến lược này.

a) Quan hệ hai chiều với cải cách hành chính

Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT) là một công cụmạnh và không thể thiếu cho mọi chính phủ hiện đại.

Cho đến gần đây, các chính phủ đã đầu tư nhiều vào ICT để hoạt động hiệu quả hơn. Trong giai đoạn đó, ICT chủ yếu là thích ứng với mô hình chính phủ hiện có để hình thành nên CPĐT, tức là quan hệ một chiều, tin học hóa, web hóa những cái đang có.

Tuy nhiên, dần dần người ta nhận thấy rằng đầu tư nhiều vào ICT nhưng hiệu quả không được như mong đợi (đối với các nước tiên tiến), thậm chí là thất bại (đối với các nước đang phát triển).

Nguyên nhân chủ yếu là mô hình hoạt động của chính phủ hiện tại không cho phép tận dụng hết khả năng của ICT. Vì vậy, từ những năm 2003-2005 một số nước đã đi tiên phong cải cách chính phủ sao cho có thể ứng dụng được công nghệ (transformational government enabled by technology)

“ Các chính phủ hiện đại có ý định cải cách nghiêm chỉnh sẽ xem công nghệ không chỉ như một công cụ chiến thuật mà là một tài sản chiến lược. Một mình công nghệ không thể cải cách được chính phủ nhưng chính phủ cũng không thể cải cách đáp ứng sự mong đợi của công dân hiện đại mà không có công nghệ” xi

Đó là quan hệ hai chiều: chính phủ dùng công nghệ để hoạt động hiệu quả hơn, phục vụ dân tốt hơn và ngược lại, công nghệ cũng đòi hỏi chính phủ hoàn thiện hơn để tận dụng được năng lực của nó.

Xu hướng mới này được xem như sự phát triển tiếp theo của e-government, gọi là transformational government xii, xiii.

Với nước ta, điều đó có phải quá xa vời, không thực tế không?

Với những nhiệm vụ Hiện đại hóa hành chính mà Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra:

“ …. bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;

b) Ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công;”

Không thể hoàn thành những nhiệm vụ này mà không cải cách hành chính theo hướng ứng dụng được công nghệ , tức là làm cái transformational government nói trên.

Vì vậy chiến lược (và cả kiến trúc sẽ nói ở phần dưới) cho tầm nhìn đến 2020 phải thể hiện được quan hệ hai chiều nói trên: công nghệ không chỉ uốn mình phục vụ hành chính mà hành chính cũng phải được cải cách sao cho tận dụng được tối đa công nghệ, xem việc ứng dụng được công nghệ là một tiêu chuẩn đánh giá kết quả của cải cách hành chính .

Điều này thực ra không có gì mới. Những ai đã từng làm tin học hóa trước đây đều biết rằng nếu cải cách hành chính không thành công thì tin học hóa thất bại là chắc chắn.

b) Các công cụ hỗ trợ soạn thảo chiến lược

Soạn thảo chiến lược CPĐT được đánh giá là một công việc “các chính phủ phải mất nhiều năm và dùng nhiều nguồn lực giá trị” xivđể thực hiện.

Nếu như các nước đi đầu về CPĐT có lẽ phải tự mày mò nghiên cứu soạn ra chiến lược thì nay đã đủ dữ liệu để có các công cụ hỗ trợ sau:

* Kinh nghiệm của các nước (best-practice)

* Các hướng dẫn (Guidelines xv, xvi, xvii)

* Các Khung chiến lược (The strategic framework of e-government ). Ví dụ mô tả tổng quan một khung xviii:

Việc chọn lựa, tham khảo các hướng dẫn (guidelines), khung (framework) và kinh nghiệm các nước (best-practice) rồi tùy biến chúng cho phù hợp với điều kiện nước ta là nội dung của những nghiên cứu nghiêm chỉnh ra ngoài phạm vi bài báo này.


Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.