Vài nét về sự biến đổi của KHXH trên thế giới
Trong cuốn “Thế giới phẳng” (The World is Flat), công trình được đánh giá là hay nhất năm 2005 tại Mỹ do Financial Times và Goldman Sachs Business bình chọn, tác giả - nhà báo Thomas Friedman cho rằng, thế giới đã trở nên “phẳng” sau khi trải qua 3 giai đoạn toàn cầu hoá được bắt đầu từ năm 1492 đến nay.
Trước xu thế toàn cầu hoá, ngay từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, Hội đồng nghiên cứu KHXH cùng với Hội đồng các học giả Mỹ đã có sáng kiến thành lập “Uỷ ban nguồn nhân lực trong KHXH”. Uỷ ban này bao gồm 60 học giả từ các ngành thuộc các quốc gia khác nhau và có ba tiểu ban đặt ở New York (Mỹ), Bellagio (Italia) và Kuala Lumpur (Malaysia). Sáng kiến này ra đời dựa trên nhu cầu có tính toàn cầu trong việc hình thành một đội ngũ các nhà nghiên cứu có khả năng nhận thức tình hình cụ thể trong mối quan hệ với các xu hướng toàn cầu, xuyên quốc gia và quốc tế. Yêu cầu cấp thiết này đặt ra một loạt vấn đề như: Làm thế nào để đào tạo, sử dụng và phát triển bền vững năng lực nghiên cứu quốc tế có khả năng giải quyết các vấn đề mà loài người phải đối mặt trong thế kỷ XXI.
Lisa Anderson, Giám đốc Viện Nghiên cứu quốc tế và chính sách công, Đại học Columbia, Chủ tịch Uỷ ban nguồn nhân lực trong KHXH cho rằng, mặc dù người ta nói nhiều về toàn cầu hoá nhưng lại ít nói về việc làm thế nào để vượt qua lề lối và các suy nghĩ có tính cục bộ, địa phương, khi các nhà khoa học phải đối mặt với những khía cạnh mới, đặc trưng mới và những ràng buộc mới.
Một số thay đổi của KHXH trên thế giới những năm gần đây
Một trong những thay đổi lớn nhất trong KHXH 50 năm qua là sự quốc tế hóa đội ngũ những người thực hiện nó. ở Mỹ, Hội đồng nghiên cứu KHXH là cơ quan ủng hộ, tư vấn cho các nghiên cứu KHXH, lúc đầu chỉ có người Mỹ tham gia. Thông qua các nghiên cứu khu vực và quốc tế, các nhà KHXH Mỹ đã tham gia vào các vấn đề toàn cầu, nhưng vẫn chỉ nhấn mạnh việc đào tạo người Mỹ và củng cố các cơ sở đào tạo và nghiên cứu của Mỹ. Tình hình này dần dần được thay đổi bởi sự tham gia của các nhà khoa học nước ngoài. Mục đích ban đầu của việc nghiên cứu các khu vực là nhằm mở mang hiểu biết và giới thiệu những miền đất mới lạ của thế giới cho người Mỹ. Ngày nay, nội dung, phạm vi và mục đích của các đề tài nghiên cứu về các khu vực khác nhau trên thế giới của người Mỹ cũng trở nên đa dạng hơn. Một điều khá thú vị nữa là phần lớn các chương trình KHXH sau đại học của Mỹ đang thu hút một số lượng lớn sinh viên quốc tế đến học, trong khi phần lớn học viên sau đại học ở Mỹ lại được đào tạo ở nước ngoài. ít nhất, điều này đã làm giảm bớt đầu óc địa phương trong các trường đại học Mỹ.
Cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90, các thông số của nghiên cứu KHXH cũng được mở rộng. Một mặt, KHXH ít bị ngăn cách bởi các rào cản quốc gia hoặc hệ tư tưởng. Mặt khác, các vấn đề toàn cầu đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà khoa học. Không một xã hội nào miễn dịch được với các căn bệnh như sức khoẻ cộng đồng, năng lượng, nghèo đói, thiên tai, dân số, bệnh tật...
Sự quốc tế hoá KHXH đã gây cho các chuyên gia khu vực, trước hết ở Mỹ, và đặc biệt trong bối cảnh hậu chiến tranh lạnh nhiều lo ngại. Các chuyên gia khu vực bị ám ảnh bởi ý tưởng về một thế giới, trong đó người ta chỉ nhìn thấy những khuôn mẫu chung, những quy luật chung toàn cầu và bỏ qua những phân tích riêng biệt hoặc những nghiên cứu có tính đặc thù, địa phương. Để hạn chế được nhược điểm này, các nhà nghiên cứu cần phân biệt một cách hệ thống và phân tích sự đa dạng của các khu vực trên thế giới trong sự đánh giá đầy đủ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đã ảnh hưởng đến sự phát triển của loài người.
Ở nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu KHXH còn phải đương đầu với một thực tế là nhiều chính phủ đã cắt giảm kinh phí cho giáo dục và nghiên cứu. Phần lớn các hoạt động nghiên cứu đã chuyển dịch từ các trường đại học sang các doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, sản phẩm của nghiên cứu cũng như giáo dục nói chung là hàng hóa công cộng mà hàng hóa đó không tuân theo nguyên tắc thị trường. Vì thế, nghiên cứu và giáo dục vẫn cần đến sự bao cấp. ở nhiều nơi trên thế giới, nhà nước vẫn tiếp tục là cơ quan bao cấp cho các nghiên cứu KHXH và điều này có cả ưu điểm và nhược điểm. Bộ trưởng Bộ Giáo dục ấn Độ Dasgupta đã cảnh báo rằng: Hệ thống giáo dục đại học phải thân thiện với thị trường. Nó không chỉ trông cậy vào chính phủ. Sự thân thiện với thị trường không có nghĩa là thương mại hóa KHXH, mặc dù một số nhà khoa học ký hợp đồng nghiên cứu với các công ty đang mở rộng thị trường ở khắp các châu lục. Sự thân thiện với thị trường chủ yếu thừa nhận rằng nghiên cứu trong KHXH không chỉ được tiến hành ở các trường đại học mà còn ở các công ty quốc tế hoặc các tổ chức phi chính phủ.
Quốc tế hóa đội ngũ nghiên cứu KHXH, toàn cầu hóa chính sách công, tư nhân hóa sự tài trợ cho các nghiên cứu đã tạo ra sự thay đổi cơ bản về nội dung của các nghiên cứu. Trong tương lai, các đề tài nghiên cứu KHXH có thể sẽ tập trung vào một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, KHXH trong những thập kỷ tới sẽ hướng vào các vấn đề chính sách công phát sinh từ tác động qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên. Từ các cố gắng bảo vệ môi trường, hạn chế tăng trưởng dân số, giảm thiểu sử dụng năng lượng..., các nhà KHXH sẽ quan tâm đến các vấn đề phát triển, cải tiến kỹ thuật nhằm đạt được sự phát triển mạnh mẽ và bền vững trong một môi trường lành mạnh. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu KHXH với các nhà khoa học tự nhiên.
Thứ hai, các nhà KHXH sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu chính xã hội loài người, kiểm định các loại hình trao đổi và giao tiếp của con người trong gia đình và ngoài xã hội. Các xã hội địa phương và toàn cầu, sự chuyển dịch dân số quốc tế, sự thay đổi các đặc tính của xã hội loài người, sự đoàn kết, mối quan hệ của các cộng đồng và chủ nghĩa dân tộc là những vấn đề sẽ được quan tâm.
Thứ ba, lý thuyết và thực tế chính trị, các quan niệm về cá nhân và quyền cá nhân, dân chủ, nhân quyền, nhà nước, xã hội công dân... sẽ là những đề tài được quan tâm.
Phát triển đội ngũ cán bộ KHXH trong bối cảnh mới
Câu hỏi đặt ra đối với mỗi quốc gia là: Làm thế nào để có được nguồn nhân lực KHXH đáp ứng được yêu cầu mới? ở Mỹ, Chính phủ đã cấp nhiều học bổng cho sinh viên quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học KHXH, lồng đào tạo KHXH vào các chương trình phi chính phủ hoặc khu vực phi lợi nhuận, đồng tài trợ cho các chương trình đào tạo và nghiên cứu với các doanh nghiệp tư nhân hoặc các viện nghiên cứu. Đây cũng là hướng đi đang được đẩy mạnh ở nhiều nước châu âu.
Để có được đội ngũ cán bộ KHXH có chất lượng cao, nhiều nước đã quan tâm đến việc mở rộng quan niệm về phương pháp và phương pháp luận của KHXH, kết hợp cách tiếp cận truyền thống với mô hình thực tế, đa ngành và liên ngành, đối thoại với các nền văn hóa và văn minh khác nhau trên thế giới. Liên quan đến vấn đề này, cần tránh quan niệm của học giả Mỹ Samuel Huntington về cái gọi là “Xung đột giữa các nền văn minh” trong tương lai.
Để làm được những điều trên đây, nên coi đào tạo KHXH là một vấn đề lâu dài. Lĩnh vực mà các nhà KHXH hoạt động sẽ không chỉ bó hẹp trong các viện nghiên cứu hay các trường đại học, mà sẽ đa dạng hơn rất nhiều. Chính vì thế phải dạy cho sinh viên ngay từ khi còn ở trong trường phân biệt giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế. Nhược điểm lớn nhất trong chương trình đào tạo của nhiều trường đại học hiện nay là trong khi các nghiên cứu lý thuyết thường bị chi phối bởi tập hợp các dữ liệu trừu tượng thì các nghiên cứu thực tế lại chú trọng quá nhiều đến các vấn đề cụ thể.
Đúng là thế kỷ XXI sẽ chứng kiến sự phá vỡ các ranh giới nhưng sẽ là sai lệch nếu cho rằng một thế giới không có ranh giới sẽ tồn tại mãi mãi. Quả thực là công nghệ viễn thông và giao thông sẽ tạo điều kiện cho con người dễ dàng liên hệ với nhau, và trong quá trình đó, một số yếu tố của chủ nghĩa địa phương sẽ biến mất. Nhưng cũng chính trong quá trình đó, tâm lý chủ nghĩa quốc gia và khu vực có thể sẽ phát triển mạnh mẽ. Theo Thomas Friedman, toàn cầu hoá/thế giới phẳng không hoàn toàn dẫn đến sự thống trị về văn hoá, mà cho phép các dân tộc duy trì nền văn hoá riêng, góp phần làm giàu văn hoá thế giới. Điều đó cũng đúng với các ranh giới trong khoa học. Một số ranh giới ngành sẽ bị phá vỡ, số khác không gắn kết. Các ngành mới sẽ xuất hiện. Nhưng vẫn không thể có một ngành khoa học tổng hợp. Trong nghiên cứu, cần có một chiến lược lâu dài, nhiều hướng, nhấn mạnh mối quan hệ giữa các vấn đề xã hội với các phân tích từ cấp độ cơ sở đến các cấp độ cao hơn. Trong đào tạo ở bậc đại học, nên chú trọng trình bày vấn đề theo cách cấu trúc hơn là việc trình bày lôgic cấu trúc một cách trừu tượng (ví dụ trong ngành kinh tế, thay vì giới thiệu cho sinh viên về lý thuyết thị trường cạnh tranh thì nên phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của các thị trường trong đời sống thực tế khác nhau. Trong điều kiện thời gian eo hẹp, một chương trình đào tạo như vậy có ích hơn là sự giới thiệu không đầy đủ và sơ sài về các vấn đề lý thuyết của môn học). Phương pháp này cung cấp cho những người học cao học một cách tiếp cận lý thuyết và những người làm luận án tiến sỹ sẽ có cơ sở nghiên cứu các vấn đề cụ thể.
Trên đây là một vài nét liên quan đến tình hình KHXH ở một số nước trên thế giới. KHXH Việt Nam đang đứng trước những nhiệm vụ hết sức nặng nề nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn của thời đại được đúc kết trong 7 nhóm quan hệ đan xen mà Uỷ ban giáo dục quốc gia đã nêu lên (quan hệ giữa toàn cầu và địa phương, giữa toàn cầu và cá thể, giữa truyền thống và hiện đại, giữa lâu dài và trước mắt, giữa cạnh tranh và bình đẳng cơ hội, giữa khối lượng tri thức ngày càng tăng quá nhanh với khả năng tiếp thu của con người, giữa tinh thần và vật chất). Trong xu hướng toàn cầu hóa, hy vọng việc cung cấp, trao đổi thông tin và hợp tác quốc tế sẽ giúp cho chúng ta hoạch định được những chính sách cần thiết và phù hợp.
_________________
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Minh Hạc, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Hà Nội 1998.
2. Samuel P. Huntington, The Clash of Civilizations, trong: Foreign Affairs, Summer 1993, Vol.72, No. 3.
3. C.T. Kurien, Social Sciences and Social Reality, trong: Items, Social Sciences Research Council, Vol. 52, Numbers 2-3, June-September 1998, tr. 36.
4. Thomas Friedman, Thế giới phẳng, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
5. Jonathan Karp, “Change of Course: India’s Ivory Towers Try to Get Practical”, trong: Far Eastern Economic Review, 14.11.1996.
6. Lisa Anderson, Human Capital in the Social Sciences, trong: Items, Social Sciences Research Council, Vol. 52, Numbers 2-3, June-September 1998.
Nguồn: T/c Hoạt động khoa học, 5/2007, tr 52-53








