Vacvina vẫn đồng hành cùng toàn dân
Thưa ông, ngay từ ngày đầu tiên thành lập Hội làm vườn Việt Nam (Vacvina) 13/1/1986, phong trào kinh tế VAC đã phát triển mạnh mẽ và gắn bó chặt chẽ với nông dân. Ông có thể lý giải về vấn đề này?
20 năm trước, dù đã thống nhất đất nước, song chúng ta vẫn bị bao vây kinh tế, khó khăn chồng chất, thiếu thốn mọi bề, vẫn phải ăn độn và khan hiếm thực phẩm. Kinh tế VAC ra đời vào lúc đó, khởi động nhằm mục tiêu đẩy mạnh sản xuất thực phẩm, cứu đói, cứu dinh dưỡng. Vì thế, phong trào VAC đáp ứng trúng lòng dân, được dân tin, dân hưởng ứng.
UNICEF ủng hộ kinh tế VAC dinh dưỡng suốt 3 năm làm thử (1988-1989-1990) và 10 năm chính thức (1991-2001), đã có tác động rất mạnh, khiến cho lúc đầu mới có 4 xã điểm với trên 20 hộ, đến lúc chương trình kết thúc đã có hàng vạn hộ mô hình, hàng nghìn lượt xã điểm, rồi trở thành phong trào của cả nước. Quốc tế cho đây là một hình thức độc đáo của dân tộc Việt Nam , đơn giản mà khoa học, quần chúng mà hiệu quả cao. Tôi khẳng định, phong trào VAC dinh dưỡng đã góp phần quan trọng trong chiến lược chống suy dinh dưỡng cho nhân dân sau chiến tranh.
Đến nay, VAC dinh dưỡng đã hoàn thành nhiệm vụ chưa, thưa ông?
Vẫn chưa hết nhiệm vụ, vì cần phải làm tiếp ở những nơi, những vùng khó khăn xa xôi hẻo lánh, bữa cơm vẫn đạm bạc. Mục tiêu của VAC dinh dưỡng ở nơi này là làm ra thực phẩm tươi, sạch, an toàn, ăn cân đối, để nâng cao sức khoẻ nhân dân. Mặt khác, VAC dinh dưỡng còn nhằm phòng chống một số bệnh đáng lo ngại như huyết áp, tim mạch, tiểu đường, béo phì...
Tuy vậy, VAC dinh dưỡng chủ yếu giải quyết trong phạm vi hộ, làm thế nào để VAC mang tính kinh tế cao hơn, ví dụ như kinh tế trang trại?
Cần nhớ rằng, VAC không chỉ là của nông dân, mà của tất cả các tầng lớp trong xã hội, từ cán bộ, công nhân viên, quân đội, cựu chiến binh, người ham thích làm vườn, đến cả tu viện, nhà truyền giáo, nhà chùa... Chính nhờ kinh tế VAC dễ làm, có hiệu quả, nên Vacvina đã phát động phong trào cải tạo vườn tạp, ao đầm hoang hoá, chuồng trống, được quần chúng hưởng ứng mãnh liệt. Đến nay, nhiều tỉnh, thành phố đã cải tạo vườn tạp đến 70-80%, đáng kể là Bắc Giang, Phú Thọ, Hải Phòng, Bình Định, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long... Nhiều nơi đẩy mạnh tu bổ, cải tạo ao hồ để nuôi trồng thuỷ đặc sản, như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng... Các huyện miền núi khôi phục phong trào nuôi cá nước chảy, như Mai Châu (Hoà Bình), Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá), A Lưới (Thừa Thiên – Huế)... ở ĐBSCL phát triển nuôi cá ao cạnh nhà, vùng ven biển quy hoạch ao nuôi tôm, cua, lươn, ếch, baba, cá lồng...
Dần dần, quy mô nuôi ngày càng lớn, cả về gia cầm lẫn đại gia súc, hình thành nền kinh tế trang trại. Tuỳ theo tính chất địa lý, sinh thái của từng vùng, nhân dân đã sáng tạo kinh tế VAC rất đa dạng: VAC, VA, AC, VC, VACR, VACB, VACQ... chủ yếu là cải tạo vườn tạp, ao hoang, chuồng chăn nuôi, sản xuất sản phẩm VAC hàng hoá. Năm 2005, Tiền Giang có 6 vạn ha vườn (và 4.452 ha vườn tạp), có sản lượng trên 70,42 vạn tấn quả. Riêng huyện Châu Thành đã có gần 6.000 hộ thu nhập trên 30 triệu đ/năm, 220 hộ trên 50 triệu đ/năm, 88 hộ trên 100 triệu đ/năm. Cũng năm 2005, Lào Cai có gần 1,9 vạn hộ VAC giỏi, có thu nhập từ 40 triệu đ/năm đến 100 triệu đ/năm, đặc biệt trong đó 63,8% số hộ đồng bào Mông, Dao, Giáy, Tày, Nùng, và 1.138 hộ từ nghèo đã vượt lên thành giàu nhờ làm VAC.
Hàng chục vạn gia trại, nông trại, tuy quy mô còn nhỏ, nhưng đã đi vào sản xuất hàng hoá, biết ứng dụng công nghệ cao, có thu nhập lớn. Hiện nay, cả nước có 12 vạn trang trại, không phải chỉ của nông dân, mà còn có cả người về hưu, cựu chiến binh, nhà khoa học, Việt kiều... với rất nhiều loại hình sáng tạo. Riêng tỉnh Bắc Giang đã có 1.280 trang trại có thu nhập 40 triệu – 70 triệu đ/năm, có 1.279 trang trại có thu nhập 71 triệu – trên 100 triệu đ/năm... Kinh tế trang trại có tỷ trọng hàng hoá giá trị trên 2 vạn tỷ đ/năm, tạo việc làm cho trên 1 triệu lao động, đào tạo một nguồn nhân lực có chất lượng, xuất hiện những “nhà khoa học” nông dân đáng nể theo hướng “trí thức hoá nông dân, hiện đại hoá nông nghiệp, văn minh hoá nông thôn”, tạo ra hàng nghìn trang trại sinh thái du lịch...
Thưa ông, từ VAC dinh dưỡng tiến lên VAC kinh tế, để rồi trở thành VAC trang trại, là sáng tạo của Vacvina. Vậy, ông có thấy cần làm gì nữa để kinh tế trang trại phát triển bền vững?
Còn nhiều việc phải làm. Cần cấp sổ đỏ để chủ trang trại yên tâm đầu tư lâu dài; cần có chính sách hợp lý về tín dụng, thuế, bảo hiểm, chế biến, cần đầu tư cơ sở hạ tầng ở vùng đồi núi khó khăn... Vacvina không được kinh phí từ ngân sách mà vẫn tồn tại và phát triển, là vì chúng tôi thực hiện châm ngôn “cho bạc cho vàng không bằng chỉ đàng làm ăn”. Chúng tôi gắn tổ chức Hội với nông dân, với toàn dân, nên dân ủng hộ Hội. Sợ nhất và vô lý nhất, là hội quần chúng nào, đoàn thể quần chúng nào cũng chỉ ngong ngóng vào ngân sách, mà hoạt động chẳng ra sao, hoặc không đáng kể. Vacvina không nói suông, mà đưa KHKT vào nghề vườn, kết hợp kinh nghiệm của lão nông với các chương trình khoa học, ra kết quả cụ thể. Bởi thế, Hội làm vườn xây dựng hệ thống trung tâm trình diễn VAC, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn, quy hoạch, kế hoạch cải tạo cơ sở sản xuất, cung ứng giống cây, giống con, sản xuất, chế biến nông lâm sản... Vacvina sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của tất cả những ai quan tâm đến nghề làm vườn. Không phải ngẫu nhiên mà Vacvina được hàng trăm tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ quốc tế, nhiều sứ quán, viện nghiên cứu, trường đại học có uy tín trên thế giới đặt quan hệ hợp tác chặt chẽ từ hàng chục năm nay.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam - No.198 [ 2006-10-04








