Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 20/05/2011 18:19 (GMT+7)

Ưu điểm và tồn tại của một số mô hình sản xuất chính

Từ khi có chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, lấy hộ là đơn vị sản xuất trong nông nghiệp thì mô hình hợp tác xã kiểu cũ không còn phù hợp. Sau khi có Nghị quyết số 13-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Luật Hợp tác xã sửa đổi năm 2003, chúng ta bắt đầu tiến hành chuyển hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, từ năm 2006 tới năm 2010, toàn quốc có khoảng 9.000 hợp tác xã kiểu mới với 7,7 triệu xã viên .

Đại đa số các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ đã chuyển đổi theo mô hình này. Theo kết quả điều tra ở các tỉnh như Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, có tới 98-100% số hộ nông dân tham gia chuyển đổi từ hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới chủ yếu là loại hình hợp tác xã dịch vụ: khâu nào hộ xã viên làm riêng lẻ không hiệu quả thì hợp tác xã làm, như: thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, khuyến nông, hướng dẫn khoa học kỹ thuật, làm đất, bảo vệ nội đồng, cung ứng vật tư… Thường thì mỗi hợp tác xã làm dịch vụ 4-5 khâu.

Tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới được hình thành trên cơ sở giải thể hợp tác xã nông nghiệp cũ, thành lập hợp tác xã nông nghiệp mới hoàn toàn theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi. Nông dân tự nguyện góp vốn đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh của hợp tác xã, gắn quyền lợi và trách nhiệm của từng hộ xã viên.

Người sáng lập có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ kinh doanh trở thành cán bộ quản lý hợp tác xã, năng động, sáng tạo, thích ứng được với cơ chế thị trường nên làm ăn có hiệu quả. Nhưng hợp tác xã kiểu này có hạn chế là số người tham gia quá ít: Đông Nam Bộ bình quân 36 người/HTX, Đồng bằng sông Cửu Long bình quân 15 người/HTX.

Cách chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới vẫn mang nặng tính hình thức: tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế lợi ích không có sự thay đổi căn bản, chưa tạo được động lực phát triển mới để gắn lợi ích của các hộ xã viên và người quản lý.

Hộ tham gia hợp tác xã theo cách "đánh trống ghi tên" nên họ không góp vốn hoặc có góp thì góp chiếu lệ từ 30.000-50.000 đồng/hộ và bản thân họ không có động lực kinh tế; hợp tác xã không có vốn hoạt động (cán bộ quản lý ngồi chơi xơi nước), ruộng đất theo hộ vẫn manh mún, nhỏ lẻ không tập trung, không tiến hành cơ khí hoá để nâng cao năng suất, không tiến hành thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, sinh học hoá, thị trường hóa…, do đó không tạo ra được sản phẩm hàng hoá.

Từ khi các hợp tác xã kiểu cũ giải thể, tan rã, loại hình tổ hợp tác (có nơi gọi là nhóm sở thích) trong nông nghiệp, nông thôn ra đời và ngày càng phát triển. Đây là loại hình kinh tế hợp tác đơn giản. Tức là các tổ, hội nghề nghiệp hình thành trên cơ sở tự nguyện của các thành viên. Mục đích là cộng tác, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm.

Theo số liệu của Cục Kinh tế hợp tác và PTNT (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn), năm 2005, cả nước có 93.648 tổ hợp tác, hàng năm tăng 4%, đến năm 2010 đạt 112.000 tổ. Nhiều địa phương có tới hàng nghìn hoặc hàng chục nghìn tổ hợp tác (Thanh Hóa 22.752 tổ, Hưng Yên 1.754 tổ, Quảng Bình 1.172 tổ, Nghệ An 2.000 tổ, Yên Bái 2.500 tổ...). Đặc biệt ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, tổ hợp tác trở thành hình thức kinh tế tập thể chính của vùng, được coi là tổ chức có phương thức mưu sinh hiệu quả nhất, năng động nhất hiện nay.

Tổ hợp táchình thành trên cơ sở địa phương không còn hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã kiểu mới được hình thành từ các tổ hợp tác và tổ hợp tác ra đời từ các hợp tác xã kiểu mới. Các loại hình chủ yếu là: tổ hợp tác tưới tiêu, tổ hợp tác vay vốn, tổ hợp tác khoa học kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm, tổ hợp tác lao động, tổ hợp tác trong lĩnh vực trồng trọt, tổ hợp tác chăn nuôi, tổ hợp tác thủy sản, tổ hợp tác ngành nghề nông thôn, tổ hợp tác quản lý bảo vệ rừng…

Mô hình này là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hóa. Nó là cơ sở để hình thành hợp tác xã kiểu mới, liên hiệp hợp tác xã, doanh nghiệp-hợp tác xã (hợp tác xã cổ phần), các hiệp hội trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời tổ hợp tác là vệ tinh quan trọng làm cho sức sống hợp tác xã kiểu mới càng lớn mạnh. Tuy nhiên, tới nay, Nhà nước chưa có một chế tài cụ thể cho tổ hợp tác phát triển.

Đối với kinh tế trang trại , trước đổi mới, thành phần kinh tế trang trại không được chấp nhận, chỉ sau khoán 10, khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất về cho hộ nông dân, khi kinh tế phát triển trong thời gian dài, thì mô hình kinh tế trang trại mới dần hình thành. Đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại là:

Sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa với quy mô lớn hơn kinh tế hộ. Tập trung hóa, chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với kinh tế hộ. Chủ trang trại có kiến thức, kinh nghiệm điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong thời gian chưa đầy 10 năm, cả nước đã phát triển được trên 150.000 trang trại các loại, sử dụng gần 1 triệu hecta đất trống, ao hoang, đồi núi trọc. Cho tới nay, các trang trại chuyên trồng cây nông nghiệp chiếm 55,3%, chăn nuôi gia súc, gia cầm 10,3%, lâm nghiệp 2,2%, nuôi trồng thuỷ sản 27,3%, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp 4,9%. Thành tựu nổi bật của trang trại sản xuất nông nghiệp cho đến nay là: Khai thác thêm 30 vạn hecta đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa. Huy động 20.000 tỷ đồng vốn trong dân để đầu tư. Giải quyết việc làm thường xuyên cho 30 vạn lao động và 30 triệu ngày công thời vụ. Giá trị sản phẩm hàng năm đạt 12.000 tỷ đồng.

Nhưng một trong những khó khăn hạn chế đến việc mở rộng đầu tư của trang trại là khó tiếp cận các tổ chức tín dụng để vay vốn sản xuất kinh doanh.

Mô hình liên kết, liên doanh với doanh nghiệp:Một nghịch lý đang tồn tại là: Người có khả năng kinh doanh nhưng lại không có đất đai, còn người có đất đai lại không có khả năng kinh doanh. Hộ nông dân có diện tích đất nhỏ lẻ, manh mún thì không thể sản xuất ra lượng hàng hoá lớn. Chỉ có tập trung ruộng đất hay tích tụ ruộng đất mới thực hiện sản xuất lớn, mới có điều kiện tiến hành cơ giới hoá nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành. Hiện nay, đã có rất nhiều mô hình liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp cả quốc doanh và tư doanh với hợp tác xã, với hộ nông dân. Hình thức liên kết như sau:

- Doanh nghiệp lo đầu tư vốn, cung cấp giống tốt, kỹ thuật, vật tư cho sản xuất nông nghiệp, tiến hành chế biến và tiêu thụ hầu hết các sản phẩm làm ra. Hộ nông dân góp ruộng và ngày công lao động theo quy hoạch "liền vùng, cùng trà, khác chủ", sản phẩm làm ra được doanh nghiệp thu mua chế biến và tiêu thụ.

Mô hình liên kết này hiện đang diễn ra rất sôi động ở nhiều nơi, nhiều vùng, nhiều dạng, mấu chốt là sản phẩm làm ra có khối lượng lớn, được chế biến và tiêu thụ trở thành hàng hoá lớn. Có thể nêu một số mô hình điển hình sau: Hợp tác xã, nông dân liên doanh liên kết với các công ty sản xuất mía đường (Nhà máy Đường Lam Sơn ở Thanh Hoá).

Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất rau quả thực phẩm (Công ty Bẩy Hoà, TP.Hồ Chí Minh; Vân Nội, Hà Nội; Xuân Hương, Đà Lạt, Lâm Đồng). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất cây ăn quả (Công ty Vĩnh Kim, sản xuất vú sữa Lò Rèn, Vĩnh Long). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất cây công nghiệp (Công ty Chè Mộc Châu sản xuất chè Shan tuyết).

Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất thuỷ sản (Công ty TNHH Hùng Vương, Cần Thơ). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất lúa gạo xuất khẩu (Công ty Tam Nông, Đồng Tháp). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất các loại giống lúa, ngô chất lượng cao (Công ty cổ phần Giống cây trồng Thái Bình; Công ty Cường Tân, Trực Ninh, NamĐịnh).

Đây là những mô hình có thể nhân rộng, khuyến khích phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Trong khi đó, mô hình hợp tác xã nông nghiệp cổ phần phát triển ở mức độ cao hơn, tự thân vận động. Đó là các hộ trong hợp tác xã quy mô thôn hay hợp tác xã quy mô xã tự góp vốn (ở mức độ cao, không phải ở mức 50.000 đồng/hộ như kiểu hợp tác xã hiện nay). Hộ nông dân là những cổ đông, họ góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tính cổ phần. Họ vẫn là nông dân, đất vẫn thuộc về họ. Họ được chia cổ tức và nhận lương khi lao động.

Đặc biệt, Ban quản lý phải là những người có trình độ quản lý, có ý chí đầu tư, nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Ban quản lý thường gọn nhẹ, gồm: Chủ nhiệm phụ trách chung, 2-3 phó chủ nhiệm phụ trách trồng trọt, hậu cần, gia công chế biến tiêu thụ sản phẩm. Nông dân được chia từ các nguồn: thu từ đóng góp cổ phần bằng ruộng đất, từ ngày công cụ thể từ lợi nhuận hàng năm của hợp tác xã cổ phần, từ trích lãi tăng theo từng vụ, từng năm. Thực hiện mô hình này giải quyết được nhiều vấn đề lớn đang đặt ra ở khu vực nông thôn, đó là:

Tập trung hay tích tụ được ruộng đất để tiến hành cơ giới hóa, sản xuất ra sản phẩm hàng hóa lớn, nâng cao được năng suất lao động, hạ giá thành, phù hợp với cơ chế thị trường và sản xuất hàng hóa. Phù hợp với nguyện vọng của nông dân là không bị mất đất. Đảm bảo ổn định lâu dài về tiêu thụ sản phẩm. Việc thực hiện mô hình này yêu cầu phải quy hoạch lại vùng sản xuất, hoạch định sản xuất những sản phẩm chính và tìm thị trường tiêu thụ ổn định.

Ở nước ta hiện nay, mô hình này đang xuất hiện ở một số nơi nhưng số lượng còn ít. Ví dụ như Hợp tác xã cổ phần càphê Lâm Viên (Lâm Đồng); Hợp tác xã cổ phần Kiều Thạch (Thanh Hải, Lục Ngạn, Bắc Giang). Cụ thể là mỗi hợp tác xã cổ phần quy tụ được số đông thành viên là những người có nhu cầu, chung lợi ích, tự nguyện góp vốn để sản xuất kinh doanh, sản phẩm làm ra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.