Ưu điểm và tồn tại của một số mô hình sản xuất chính
Từ khi có chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, lấy hộ là đơn vị sản xuất trong nông nghiệp thì mô hình hợp tác xã kiểu cũ không còn phù hợp. Sau khi có Nghị quyết số 13-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Luật Hợp tác xã sửa đổi năm 2003, chúng ta bắt đầu tiến hành chuyển hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, từ năm 2006 tới năm 2010, toàn quốc có khoảng 9.000 hợp tác xã kiểu mới với 7,7 triệu xã viên .
Đại đa số các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ đã chuyển đổi theo mô hình này. Theo kết quả điều tra ở các tỉnh như Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, có tới 98-100% số hộ nông dân tham gia chuyển đổi từ hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới chủ yếu là loại hình hợp tác xã dịch vụ: khâu nào hộ xã viên làm riêng lẻ không hiệu quả thì hợp tác xã làm, như: thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, khuyến nông, hướng dẫn khoa học kỹ thuật, làm đất, bảo vệ nội đồng, cung ứng vật tư… Thường thì mỗi hợp tác xã làm dịch vụ 4-5 khâu.
Tại các tỉnh Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới được hình thành trên cơ sở giải thể hợp tác xã nông nghiệp cũ, thành lập hợp tác xã nông nghiệp mới hoàn toàn theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi. Nông dân tự nguyện góp vốn đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh của hợp tác xã, gắn quyền lợi và trách nhiệm của từng hộ xã viên.
Người sáng lập có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ kinh doanh trở thành cán bộ quản lý hợp tác xã, năng động, sáng tạo, thích ứng được với cơ chế thị trường nên làm ăn có hiệu quả. Nhưng hợp tác xã kiểu này có hạn chế là số người tham gia quá ít: Đông Nam Bộ bình quân 36 người/HTX, Đồng bằng sông Cửu Long bình quân 15 người/HTX.
Cách chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới vẫn mang nặng tính hình thức: tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế lợi ích không có sự thay đổi căn bản, chưa tạo được động lực phát triển mới để gắn lợi ích của các hộ xã viên và người quản lý.
Hộ tham gia hợp tác xã theo cách "đánh trống ghi tên" nên họ không góp vốn hoặc có góp thì góp chiếu lệ từ 30.000-50.000 đồng/hộ và bản thân họ không có động lực kinh tế; hợp tác xã không có vốn hoạt động (cán bộ quản lý ngồi chơi xơi nước), ruộng đất theo hộ vẫn manh mún, nhỏ lẻ không tập trung, không tiến hành cơ khí hoá để nâng cao năng suất, không tiến hành thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, sinh học hoá, thị trường hóa…, do đó không tạo ra được sản phẩm hàng hoá.
Từ khi các hợp tác xã kiểu cũ giải thể, tan rã, loại hình tổ hợp tác (có nơi gọi là nhóm sở thích) trong nông nghiệp, nông thôn ra đời và ngày càng phát triển. Đây là loại hình kinh tế hợp tác đơn giản. Tức là các tổ, hội nghề nghiệp hình thành trên cơ sở tự nguyện của các thành viên. Mục đích là cộng tác, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm.
Theo số liệu của Cục Kinh tế hợp tác và PTNT (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn), năm 2005, cả nước có 93.648 tổ hợp tác, hàng năm tăng 4%, đến năm 2010 đạt 112.000 tổ. Nhiều địa phương có tới hàng nghìn hoặc hàng chục nghìn tổ hợp tác (Thanh Hóa 22.752 tổ, Hưng Yên 1.754 tổ, Quảng Bình 1.172 tổ, Nghệ An 2.000 tổ, Yên Bái 2.500 tổ...). Đặc biệt ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, tổ hợp tác trở thành hình thức kinh tế tập thể chính của vùng, được coi là tổ chức có phương thức mưu sinh hiệu quả nhất, năng động nhất hiện nay.
Tổ hợp táchình thành trên cơ sở địa phương không còn hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã kiểu mới được hình thành từ các tổ hợp tác và tổ hợp tác ra đời từ các hợp tác xã kiểu mới. Các loại hình chủ yếu là: tổ hợp tác tưới tiêu, tổ hợp tác vay vốn, tổ hợp tác khoa học kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm, tổ hợp tác lao động, tổ hợp tác trong lĩnh vực trồng trọt, tổ hợp tác chăn nuôi, tổ hợp tác thủy sản, tổ hợp tác ngành nghề nông thôn, tổ hợp tác quản lý bảo vệ rừng…
Mô hình này là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hóa. Nó là cơ sở để hình thành hợp tác xã kiểu mới, liên hiệp hợp tác xã, doanh nghiệp-hợp tác xã (hợp tác xã cổ phần), các hiệp hội trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời tổ hợp tác là vệ tinh quan trọng làm cho sức sống hợp tác xã kiểu mới càng lớn mạnh. Tuy nhiên, tới nay, Nhà nước chưa có một chế tài cụ thể cho tổ hợp tác phát triển.
Đối với kinh tế trang trại , trước đổi mới, thành phần kinh tế trang trại không được chấp nhận, chỉ sau khoán 10, khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất về cho hộ nông dân, khi kinh tế phát triển trong thời gian dài, thì mô hình kinh tế trang trại mới dần hình thành. Đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại là:
Sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa với quy mô lớn hơn kinh tế hộ. Tập trung hóa, chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với kinh tế hộ. Chủ trang trại có kiến thức, kinh nghiệm điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong thời gian chưa đầy 10 năm, cả nước đã phát triển được trên 150.000 trang trại các loại, sử dụng gần 1 triệu hecta đất trống, ao hoang, đồi núi trọc. Cho tới nay, các trang trại chuyên trồng cây nông nghiệp chiếm 55,3%, chăn nuôi gia súc, gia cầm 10,3%, lâm nghiệp 2,2%, nuôi trồng thuỷ sản 27,3%, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp 4,9%. Thành tựu nổi bật của trang trại sản xuất nông nghiệp cho đến nay là: Khai thác thêm 30 vạn hecta đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa. Huy động 20.000 tỷ đồng vốn trong dân để đầu tư. Giải quyết việc làm thường xuyên cho 30 vạn lao động và 30 triệu ngày công thời vụ. Giá trị sản phẩm hàng năm đạt 12.000 tỷ đồng.
Nhưng một trong những khó khăn hạn chế đến việc mở rộng đầu tư của trang trại là khó tiếp cận các tổ chức tín dụng để vay vốn sản xuất kinh doanh.
Mô hình liên kết, liên doanh với doanh nghiệp:Một nghịch lý đang tồn tại là: Người có khả năng kinh doanh nhưng lại không có đất đai, còn người có đất đai lại không có khả năng kinh doanh. Hộ nông dân có diện tích đất nhỏ lẻ, manh mún thì không thể sản xuất ra lượng hàng hoá lớn. Chỉ có tập trung ruộng đất hay tích tụ ruộng đất mới thực hiện sản xuất lớn, mới có điều kiện tiến hành cơ giới hoá nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành. Hiện nay, đã có rất nhiều mô hình liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp cả quốc doanh và tư doanh với hợp tác xã, với hộ nông dân. Hình thức liên kết như sau:
- Doanh nghiệp lo đầu tư vốn, cung cấp giống tốt, kỹ thuật, vật tư cho sản xuất nông nghiệp, tiến hành chế biến và tiêu thụ hầu hết các sản phẩm làm ra. Hộ nông dân góp ruộng và ngày công lao động theo quy hoạch "liền vùng, cùng trà, khác chủ", sản phẩm làm ra được doanh nghiệp thu mua chế biến và tiêu thụ.
Mô hình liên kết này hiện đang diễn ra rất sôi động ở nhiều nơi, nhiều vùng, nhiều dạng, mấu chốt là sản phẩm làm ra có khối lượng lớn, được chế biến và tiêu thụ trở thành hàng hoá lớn. Có thể nêu một số mô hình điển hình sau: Hợp tác xã, nông dân liên doanh liên kết với các công ty sản xuất mía đường (Nhà máy Đường Lam Sơn ở Thanh Hoá).
Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất rau quả thực phẩm (Công ty Bẩy Hoà, TP.Hồ Chí Minh; Vân Nội, Hà Nội; Xuân Hương, Đà Lạt, Lâm Đồng). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất cây ăn quả (Công ty Vĩnh Kim, sản xuất vú sữa Lò Rèn, Vĩnh Long). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất cây công nghiệp (Công ty Chè Mộc Châu sản xuất chè Shan tuyết).
Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất thuỷ sản (Công ty TNHH Hùng Vương, Cần Thơ). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất lúa gạo xuất khẩu (Công ty Tam Nông, Đồng Tháp). Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất các loại giống lúa, ngô chất lượng cao (Công ty cổ phần Giống cây trồng Thái Bình; Công ty Cường Tân, Trực Ninh, NamĐịnh).
Đây là những mô hình có thể nhân rộng, khuyến khích phát triển trong giai đoạn hiện nay.
Trong khi đó, mô hình hợp tác xã nông nghiệp cổ phần phát triển ở mức độ cao hơn, tự thân vận động. Đó là các hộ trong hợp tác xã quy mô thôn hay hợp tác xã quy mô xã tự góp vốn (ở mức độ cao, không phải ở mức 50.000 đồng/hộ như kiểu hợp tác xã hiện nay). Hộ nông dân là những cổ đông, họ góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tính cổ phần. Họ vẫn là nông dân, đất vẫn thuộc về họ. Họ được chia cổ tức và nhận lương khi lao động.
Đặc biệt, Ban quản lý phải là những người có trình độ quản lý, có ý chí đầu tư, nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Ban quản lý thường gọn nhẹ, gồm: Chủ nhiệm phụ trách chung, 2-3 phó chủ nhiệm phụ trách trồng trọt, hậu cần, gia công chế biến tiêu thụ sản phẩm. Nông dân được chia từ các nguồn: thu từ đóng góp cổ phần bằng ruộng đất, từ ngày công cụ thể từ lợi nhuận hàng năm của hợp tác xã cổ phần, từ trích lãi tăng theo từng vụ, từng năm. Thực hiện mô hình này giải quyết được nhiều vấn đề lớn đang đặt ra ở khu vực nông thôn, đó là:
Tập trung hay tích tụ được ruộng đất để tiến hành cơ giới hóa, sản xuất ra sản phẩm hàng hóa lớn, nâng cao được năng suất lao động, hạ giá thành, phù hợp với cơ chế thị trường và sản xuất hàng hóa. Phù hợp với nguyện vọng của nông dân là không bị mất đất. Đảm bảo ổn định lâu dài về tiêu thụ sản phẩm. Việc thực hiện mô hình này yêu cầu phải quy hoạch lại vùng sản xuất, hoạch định sản xuất những sản phẩm chính và tìm thị trường tiêu thụ ổn định.
Ở nước ta hiện nay, mô hình này đang xuất hiện ở một số nơi nhưng số lượng còn ít. Ví dụ như Hợp tác xã cổ phần càphê Lâm Viên (Lâm Đồng); Hợp tác xã cổ phần Kiều Thạch (Thanh Hải, Lục Ngạn, Bắc Giang). Cụ thể là mỗi hợp tác xã cổ phần quy tụ được số đông thành viên là những người có nhu cầu, chung lợi ích, tự nguyện góp vốn để sản xuất kinh doanh, sản phẩm làm ra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.








