Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 08/01/2008 00:20 (GMT+7)

Ương tôm càng xanh từ bột lên giống

1. Hình thức ương:

Tôm càng xanh là đối tượng thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao, được nuôi ở nhiều nước trên thế giới. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), các mô hình nuôi tôm càng xanh trong mương vườn, ruộng lúa, ao hồ...ngày càng phát triển. Trở ngại lớn nhất đối với các nông hộ khi nuôi tôm thịt từ giống nhân tạo mua từ các cơ sở ương là về chất lượng ( kích cỡ không đồng đều) và giá tôm giống cao (chiếm 30% chi phí sản xuất). Để giảm thiểu tối đa tổn thất cho người nuôi thì việc chọn hình thức ao ương sang (ương ngay trong ao nuôi thịt) sẽ khắc phục được tình trạng khó khăn lúc thu hoạch (hao hụt nhiều do thao tác) và công việc vận chuyển tôm đến ao nuôi (có thể làm tôm bị yếu). Lợi điểm chính của ao ương sang là tôm tập trung nên có thể theo dõi chính xác hơn và cho ăn dễ dàng hơn. Do đó, việc ngăn một phần ao nuôi để ương tôm là có hiệu quả hơn dùng hệ thống ao ương riêng biệt đối với các nông hộ sản xuất tôm thịt.

2. Công trình ương:

Chọn nơi có nguồn nước tốt và giữ được nước; Hoàn toàn có thể chủ động nguồn nước cấp khi cần thiết để thay.Thuận lợi giao thông cho việc vận chuyển tôm giống; Gần nơi cung cấp nguồn post. Việc chọn địa điểm phù hợp cho sản xuất nhằm giảm giá thành xây dựng, giảm chi phí sản xuất và có thể điều chỉnh hệ thống nuôi cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất mà người nuôi nên cẩn thận xem xét.

Diện tích phần ương: Dựa trên nhu cầu số lượng tôm giống cần cho nuôi thịt và mật độ thả ương để quyết định diện tích phần ương trong ao, có thể chiếm từ 15-20% diện tích ao nuôi. Phần ương này có thể giới hạn lại bằng cách dùng lưới để ngăn ao hoặc dùng giai đặt trong ao để ương. Đối với những hộ ương để cung ứng giống cho người nuôi tôm thịt cũng phải căn cứ vào nhu cầu con giống trong khu vực để bố trí ao ương cho phù hợp, thường từ 300-500 m2/ao để thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý.

Hệ thống cấp thoát nước và mực nước : Bố trí cống cấp và thoát nước dạng chìm, riêng biệt với tổng đường kính cống từ 30-50 cm/1000m2 đặt ở đầu và cuối ao nuôi với yêu cầu:Đảm bảo cấp đầy hay tháo cạn nước trong vòng 4-6 giờ; Cống thoát nằm ở nơi thấp nhất; Độ dốc đáy ao là 1:200 giảm dần từ cống cấp đến cống thoát.Trong suốt quá trình ương phải duy trì mực nước từ 0,8- 1,2m.

Giá thể: Dùng chà tre khô bó lại thả xuống ao để tạo nơi trú ẩn cho tôm, tốt nhất diện tích thả chà nên chiếm 5% diện tích mặt nước.

3. Các biện pháp kỹ thuật:

Chất lượng nước ao: Một số chỉ tiêu môi trường nước thích hợp trong ao ương nuôi tôm càng xanh cần duy trì trong quá trình sản xuất:- Nhiệt độ:28- 30 oC; Độ trong: 25- 40 cm; Oxy hòa tan: 4- 7 mg/l ; Độ pH: 7- 8; H 2S: 0,01- 0,05 mg/l; NO 2-: 0,01- 0,3 mg/l; NH 3+: 0,05- 0,7 mg/l.

Ao ương trước khi thả giống 7 ngày cần phải được cải tạo đúng qui trình: tát cạn ao; bắt hết cá dữ, cá tạp và các địch hại khác gây nguy hại cho tôm ương; vét bớt bùn đáy chỉ để lại khoảng 10 - 20 cm bùn; san bằng nền đáy dốc về phía cống thoát; đắp bờ, lấp hang hốc; phơi đáy ao 2-3 ngày...

Bón vôi: dùng vôi sống CaO với liều lượng 10 - 5 kg/100 m 2nhằm vệ sinh, khử trùng ao ương và phòng bệnh cho tôm; Lấy nước vào ao ương 0,3 - 0,5 m qua cống cấp có lưới xanh nhiều lớp hoặc vải thật mịn để ngăn ngừa cá tạp và địch hại; Gây màu nước bằng phân chuồng đã ủ hoai thật kỹ với liều lượng 100 - 150g/m 3nước, cần ngâm trong nước 1 ngày, sau đó té đều khắp mặt ao để tránh phân bị trôi dạt về phía góc ao. Nếu có điều kiện có thể bón thêm phân vô cơ hàng tuần từ 0,5 - 1kg/1000 m 2. Tốt nhất là sử dụng phân gà phơi khô hoặc phân gà vi sinh (có bổ sung một số khoáng vi lượng); Sau khi bón 3 ngày khi thấy nước có màu xanh lá non thì tiếp tục cho nước vào cho đến 0,8 - 1,0 m rồi tiến hành thả post.

Thả giống: Chọn giống: postlarvae có ngày tuổi từ 12 -15 có kích cỡ đồng đều, không dị hình, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc đặc trưng;

Mật độ thả: ương với mật độ vừa phải từ150 - 200 con/m 2.

Thời điểm thả ương: từ tháng 4 - 6 và từ tháng 8 - 10 dl;

Cách thả giống: vận chuyển post trong bao có bơm oxy vào lúc mát trời; để tránh tôm bị sốc nhiệt độ nên ngâm bao chứa tôm trong ao ương từ 15 - 20 phút, sau đó mở miệng bao tát nước vào từ từ và để tôm tự bơi ra. Chú ý nên thả tôm cách bờ trên 1 m vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Nên sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên dành cho tôm càng xanh giống với hàm lượng đạm từ 30 - 35% để cung cấp dinh dưỡng ổn định cho tôm trong sốt quá trình ương. Ngoài ra, tùy sự sẵn có các nguồn thức ăn ở địa phương như cá biển, ốc bươu vàng, cua đồng, hến...dùng thay thế một phần thức ăn công nghiệp sau khi ương được 15 ngày bằng cách xay nhỏ rồi mới cho tôm ăn. Lượng thức ăn: cho ăn 20% TLT đối với ương mật độ 200 con/m 2. Có thể ước tính liều lượng cho ăn của 10.00 tôm post như sau: Ngày thứ 01 - 10: 25 - 35g/ngày , Ngày thứ 11 - 20: 40 - 50 g/ngày , Ngày thứ 21 - 30: 60 - 80g/ ngày. Thời gian cho ăn: nên cho tôm ăn 3 - 4 lần/ ngày. Vào lúc sáng sớm và chiều mát thì lượng cho ăn trong ngày phân chia nhiều hơn các lần còn lại.

Sử dụng sàng ăn để kiểm tra việc cho ăn, biết được khả năng sử dụng thức ăn, sức khỏe của tôm để kịp thời điều chỉnh hàng ngày lượng thức ăn cho phù hợp với sự sinh trưởng của tôm nuôi. Có thể bố trí 02 sàng ăn /300m2 với đường kính 70 - 80 cm hoặc hình vuông với kích thước 60 x 60cm, đặt sát đáy ao, nơi sạch và hơi xa bờ ao.

Thường xuyên kiểm tra bờ, lưới, cống để tránh thất thoát, không cần thay nước, chỉ bổ sung lượng nước bốc hơi, các thông số như pH và độ trong nên kiểm tra hàng ngày để theo dõi sự biến động của môi trường ương.

4. Thu hoạch tôm ương:

Sau một tháng ương, bung vèo hoặc giai cho tôm ra ao. Tỉ lệ sống từ 70 - 85% .Trọng lượng bình quân 0,5 - 1,0g/con, có thể đạt kích cỡ từ 3-5 cm. Đối với ao ương riêng biệt thì trước khi thu hoạch phải chuẩn bị giai chứa để trong ao hay bể có sục khí. Nên thu hoạch vào sáng sớm bằng cách tháo cạn nước, dùng lưới kéo thu một phần sau đó tát cạn thu toàn bộ.

Cách vận chuyển tôm giống: Dùng bao nilon cỡ 60 x 90 cm có bơm oxy chuyển từ 1000 - 1500 con/bao cho vào khoảng 5 - 10 lít nước của bể chứa tôm vận chuyển trong 8 - 10 giờ.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.