Ung thư vú có liên quan đến nội tiết
Các yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú
Ung thư vú phát sinh từ những tế bào thuộc hệ biểu mô do có sự đột biến trong phân chia tế bào bình thường, có thể do tổn thương ADN. Đặc biệt ung thư vú có liên quan rõ rệt đến yếu tố nội tiết, gia đình, tuổi...
Về nội tiết, qua nghiên cứu cho thấy, nồng độ estrogen nội sinh ở bệnh nhân UTV cao hơn so với người không bị UTV. Những người có kinh nguyệt sớm, mãn kinh muộn nguy cơ UTV cao hơn. Ở những phụ nữ không lấy chồng, không sinh con, sinh con muộn (sau 30 tuổi), tỷ lệ ung thư vú cao hơn phụ nữ đã sinh, đẻ một lần hoặc nhiều lần.
Về gia đình, bệnh chỉ liên quan đến thế hệ thứ nhất: mẹ, con gái, chị (em) gái. Phụ nữ có mẹ bị ung thư vú dưới 40 tuổi nguy cơ phát triển UTV tăng gấp 2 lần so với phụ nữ không có mẹ bị UTV.
Về độ tuổi, tỷ lệ UTV tăng theo tuổi. Theo đó UTV ở người dưới 30 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh là 25/100.000 ở người từ 30 đến 40 tuổi, và tăng đến 200/100.000 ở nhóm người từ 45 đến 49 tuổi, sau tuổi 50 tăng chậm. Điều này càng chứng tỏ UTV liên quan mật thiết đến nội tiết.
Bên cạnh đó, bệnh còn liên quan với chế độ ăn nhiều mỡ động vật, không liên quan tới lượng chất béo thực vật - ăn thịt nướng, rán có nguy có UTV cao. Rượu, thuốc lá cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ UTV.
Định kỳ thăm khám để phát hiện sớm UTV
Chế độ ăn có dầu ôliu, dầu ngũ cốc, rau quả tươi, không hút thuốc lá, không uống rượu ngăn chặn được nguy cơ ung thư vú.
Chị em phụ nữ nên tự khám vú sau kỳ hành kinh 5 ngày. Biểu hiện khối u bất thường ở vú là: U chắc, có thể dính vào da, vùng ngực, co kéo núm vú, hoặc chảy dịch đầu vú.
Việc phát hiện sớm UTV cần đặc biệt lưu ý ở nhóm phụ nữ trên 40 tuổi, nhóm có nguy cơ cao: tiền sử gia đình, phụ nữ không có con, béo phì. Ngoài việc tự khám vú hàng tháng nên khám định kỳ 1 năm 1 lần, khám thầy thuốc chuyên khoa khi nghi ngờ có u ở vú. Chụp vú 1 năm/1 lần đối với người có nguy cơ cao, đây là biện pháp duy nhất có vai trò trong khám sàng lọc qua các thử nghiệm lâm sàng. Làm tốt công tác sàng lọc và phát hiện sớm UTV hạ được tỷ lệ tử vong 20 - 30%.
Hóa trị liệu và nội tiết - Phương pháp điều trị rất phổ biến
UTV là bệnh tại chỗ nhưng có tính chất toàn thân. Các phương pháp điều trị được sử dụng: Phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nội tiết, miễn dịch, thuốc hỗ trợ chống ung thư, tùy theo giai đoạn bệnh toàn trạng bệnh để sử dụng các phương pháp thích hợp. Tuy nhiên, hóa trị, nội tiết là hai phương pháp hiện nay rất được quan tâm. Đa hóa trị: CMF, CAF, AC phác đồ có Taxane (Taxol), thường xuyên được áp dụng cho bệnh nhân UTV.
Đặc biệt, điều trị nội tiết (Arimidex) rất có hiệu quả với bệnh nhân UTV có thụ thể nội tiết dương tính (60 - 70%). Đây là thuốc ức chế men Aromatase, có tác dụng ức chế bài tiết estrogen ở phụ nữ hậu mãn kinh, làm giảm hơn 50% trường hợp tái phát trong vòng 2,5 năm đầu, kéo dài thời gian sống, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Nhưng các phương pháp điều trị trên đều có ảnh hưởng tới sức khỏe, làm giả khả năng miễn dịch của người bệnh. Mediphylamin có tác dụng nâng cao sức khỏe cũng như hệ thống miễn dịch của người bệnh.
UTV là ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ Việt Nam. Nếu làm tốt công tác sàng lọc phát hiện sớm sẽ hạ được tỷ lệ tử vong, tăng thời gian sống thêm và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh. Theo thống kê của viện ung thư Hoa Kỳ, thời gian sống thêm 5 năm đối với giai đoạn sớm (mới có u tại vú) đạt 97,4%; đối với giai đoạn tại vùng (có u tại vú và có hạch nách) đạt: 77,4%; khi đã có di căn xa chỉ còn 21,2%.
Khi nghi ngờ có khối u bất thường bệnh nhân có thể đến văn phòng Hội Ung thư Hà Nội (đặt tại phòng khám Hướng Dương - số 3/167 đường Giải Phóng - Hà Nội) để được tư vấn miễn phí. Điện thoại tư vấn (04) 6282587. Trung tâm có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ, chuyên ngành ung thư với trang thiết bị đồng bộ hiện đại có khả năng khám, phát hiện sớm và điều trị ung thư.








