Ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp: "Đi đều 2 chân"
· Có thể chết vì... thiếu hiểu biết!
Mặc dù đã “đi đầu trong cả nước” trên lĩnh vực nuôi trồng cây – con, song sự phát triển của ĐBSCL có nguy cơ chững lại bởi phương thức sản xuất và lối sống không thể thay đổi ngày một ngày hai.
PGS-TS Nguyễn Văn Bá ở Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học (ĐH Cần Thơ) phân tích: Do mặt bằng dân trí còn rất thấp so với cả nước, việc triển khai cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm còn rất khó khăn. Nhiều sản phẩm công nghệ còn áp dụng quy trình công nghệ lạc hậu, giá thành cao, chất lượng kém, không đảm bảo ATVSTP, gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng.
Ông day dứt: “Tôi rất thất vọng khi phải chứng kiến cảnh nông dân lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, hóa chất trong nuôi trồng mà không biết hoặc không cần biết những hậu quả hệ lụy như đất đai suy kiệt, cằn cỗi; nguyên liệu công nghiệp lưu tồn nhiễm bẩn không sao tẩy rửa hết… Suy cho cùng không gì nguy hại bằng sự thiếu hiểu biết”.
Cùng tâm trạng, PGS-TS Phạm Văn Kim (ĐH Cần Thơ) cho rằng hiện nay, nông dân ĐBSCL hoàn toàn lệ thuộc vào phân bón hóa học và thuốc BVTV. Ông nói: “Kể cả lãnh đạo các địa phương cũng tin rằng chỉ có những thứ này mới làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng. Người nông dân đã quên đi phân hữu cơ – chất căn bản và tối cần thiết cho đất nông nghiệp – mà trước kia ông bà chúng ta đã sử dụng để nuôi sống gia đình”.
Theo đánh giá của GS-TS Bùi Chí Bửu, mục tiêu chính phủ đề ra là từ nay đến năm 2010 có 80% diện tích đất trồng sử dụng chế phẩm sinh học xem ra khó thực hiện. Hiện nay, trong khi tình trạng sử dụng hóa chất tràn lan đang rất báo động, là nguy cơ dẫn đến đất đai bị thoái hóa thì các công ty tư nhân của VN hoạt động trong lĩnh vực chế phẩm sinh học lại rất yếu. Còn các DN nhà nước nhảy vào thị trường VN chủ yếu là “dân hóa chất”, rất ít làm sinh học.
Đáng lo nữa là nhiều sản phẩm họ mang sang thuộc dạng đã “quá đát” hoặc đã bị cấm trên thế giới. Họ đã khấu hao trang thiết bị nên vào VN bán cho chúng ta với giá không nơi nào rẻ hơn. “Không lo sao được khi có tới trên 200 công ty phân bón và thuốc BVTV nước ngoài ở VN đang ngày ngày “dội bom” người nông dân bằng các video clip quảng cáo trên truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng khác. 5 năm nữa chưa chắc đã thay đổi được tập quán!”, TS Bửu lắc đầu.
· Không để tụt hậu
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”, nhiều tỉnh ĐBSCL đã vội vã tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, mời chào các chuyên gia hàng đầu tư vấn cách thức ứng dụng CNSH thiết thực cho tỉnh nhà. Đây là dấu hiệu đáng mừng khi chúng ta làm rã đông “tảng băng” tư duy cũ ở cấp quản lý nhà nước địa phương.
TS Lê Xuân Thám nói: “Mỗi tỉnh nên chọn cho mình một chương trình hành động đặc sắc. Cứ bắt chước nhau là thua. Riêng với ĐBSCL, vấn đề còn nóng hơn khi đầu tư vào lĩnh vực mới mẻ này còn thấp và phiến diện”.
TS Nguyễn Văn Bá nhẩm tính: Trong lĩnh vực đào tạo cho ĐBSCL, số cử nhân, kỹ sư CNSH tốt nghiệp hàng năm kể cả ở TPHCM và ĐH Cần Thơ không hơn con số 300 người, thạc sĩ về CNSH không tới 50, số công nhân kỹ thuật công nghệ cũng chỉ ở mức trên dưới 500 người. Và điều đáng buồn nữa – theo ông – “tuy là có nhưng rất hiếm các nhạc trưởng điều khiển dàn nhạc CNSH một cách nhịp nhàng, đồng bộ và giải quyết trọn vẹn các vấn đề có tính cốt lõi.
Trong khi đó, DN vừa và nhỏ do thiếu niềm tin vào kỹ năng và khả năng sáng tạo của đội ngũ nghiên cứu CNSH nên chưa mạnh dạn đầu tư để ứng dụng, nhân rộng thành phong trào”. Khó thế song vẫn phải làm, ráng làm và theo ông Bá “nghiên cứu CNSH không chỉ dừng chân ở mức nhân giống bằng tháp ghép cây con, chuyển phôi động vật, gây giống đơn tính hay lên men theo kiểu cổ truyền như hiện nay mà cần phải tạo dòng (cloning) giống cây trồng, vật nuôi bằng công nghệ tái tổ hợp ADN hoặc cải tiến quy trình lên men theo hướng công nghiệp hóa”.
Theo TS Bùi Chí Bửu, chúng ta phải linh hoạt “đi đều 2 chân”: vừa cải tiến di truyền giống cây – con vừa “bảo tồn” và “phát triển” các giống bản địa quý hiếm và dù có đi vào lãnh vực hóc búa nhất của sinh học phân tử vẫn “không quên công nghệ truyền thống như nuôi cấy mô”. Ông cho rằng do điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL chúng ta nên ưu tiên khai thác ưu thế của “giống cây trồng chịu khô hạn và chống chịu mặn”.
Ở đây cũng cần nhấn mạnh vai trò của cây con chuyển nạp gen (GMO) trong các khâu đột phá quan trọng như giống kháng sâu bệnh, giống có phẩm chất nông sản tốt, giống chống chịu với điều kiện bất lợi do môi trường, giống có năng suất cao. Trở ngại lớn nhất hiện nay là chúng ta chưa hoàn tất các quy trình công bố luật an toàn sinh học và quyền sở hữu trí tuệ.
TS Nguyễn Văn Bá đúc kết: Nghiên cứu, phát triển và chuyển giao CNSH tuy tốn rất nhiều tiền của và công sức, trước mắt chưa thấy hiệu quả ngay nhưng sẽ mang lại lợi ích gấp trăm – ngàn lần về lâu dài. Chúng ta đã tụt hậu nên không thể để tụt hậu mãi được. Điều cốt lõi là lãnh đạo các cấp, ngành có liên quan cùng nhau nỗ lực sớm giải quyết triệt để tình trạng đói nghèo trầm trọng về tri thức. Cùng với cải tiến công nghệ, cần đẩy nhanh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích phong trào nghiên cứu, phát triển và chuyển giao CNSH…
Nguồn: SGGP 23/07/2006








