Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 04/07/2008 00:26 (GMT+7)

Ứng dụng công nghệ mới làm đê, kè chống ngập úng

1/- Ứng dụng công nghệ mới “Cọc ván bê-tông cốt thép dự ứng lực dạng sóng” để làm đê bao và kè kênh, rạch. Đây là sản phẩm do Tập đoàn PS Nhật Bản phát minh cách đây 50 năm, được ứng dụng rất có hiệu quả ở Nhật. Cách đây 9 năm, Nhật đã dùng công nghệ này làm kênh dẫn nước cho Nhà máy Điện Phú Mỹ 1, với chiều dài 1.000m, rộng 45m, sâu 8,7m, đến nay công trình này vẫn bền vững và bạn đã chuyển giao công nghệ cho Việt Nam (Công ty cổ phần Bê tông 620 Châu Thới, Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Vật tư).

Cách làm bờ bao như hiện nay tại TP là quá tạm bợ. Nền đất TP yếu nhưng lại đắp bờ bao bằng các loại đất nhão nhoét, lắm hữu cơ… nên dù có gia cố bằng cừ tràm vẫn dễ dẫn đến hiện tượng xói mòn, vỡ bờ khi thủy triều lên. Nhà nước phải chi hàng trăm tỷ đồng hàng năm để gia cố, sửa chữa (167 tỷ)… mà vẫn không bền vững, mất nhiều đất (mỗi bờ bao rộng từ 2 – 3m), thiệt hại cây trái, hoa màu, đình trệ công việc làm ăn, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, dịch sốt xuất huyết phát sinh…

Vậy tại sao không dùng cọc ván bêtông dự ứng lực dạng sóng để làm đê bao? Chỉ cần mất 1m đất chiều ngang, lại vô cùng bền vững vì sản phẩm này làm bằng thép cường độ cao, bêtông mác cao (M700), nhờ cấu tạo “dạng sóng” nên có khả năng chịu lực tốt hơn rất nhiều so với dạng phẳng, lại dễ thi công, ít ảnh hưởng đến các công trình lân cận. Tùy từng vị trí sức ép của triều cường mà chọn độ dày cọc ván khác nhau (60 – 80 – 100 – 110 – 120 – 160 – 200mm) để có giá thành hợp lý, chỉ cần một lớp ván cọc cùng dầm mũ là đã trở thành con đê xinh xắn. Cao trình của đê phải đảm bảo an toàn sau 50 năm nữa. Nhà nước đầu tư xây dựng toàn bộ công trình, khi hoàn thành sẽ thu hồi vốn qua “phí chống ngập úng”. Ưu điểm của cọc ván này là dễ thay thế, nơi nào không cần nữa thì có thể nhổ lên để sử dụng ở nơi khác.

Những nơi cần kết hợp đê bao với đường giao thông thì dùng cọc ván bê tông đóng về 2 phía rồi đổ đất, cát, đá, tráng nhựa thì sẽ thành đường, tất nhiên phải có dầm dằng và dầm mũ.

Dùng cọc ván bêtông để làm “đập” ở các cửa kênh, rạch… có cửa đóng, mở cơ học cũng rất thuận tiện. Đóng lại khi triều cường lên quá cao, mở ra khi triều cường xuống để thay nước. Ở các cửa đập cần có “trạm bơm dự phòng công suất lớn”, trạm bơm này chỉ vận hành khi “cần thoát nước cưỡng bức”, tức những lúc mưa to và triều cường dâng cao. Vì vậy, có thể ví triều cường là một máy bơm khổng lồ để thoát nước khi triều cường xuống nhưng không cần sử dụng năng lượng, nên ta cần khai thác triệt để cơ chế này.

Diện tích toàn thành phố ta khá rộng (khoảng 2.095km 2), lại lắm kênh, rạch, nên làm đê bao cho toàn thành phố thì rất khó. Theo chúng tôi, nên nghiên cứu làm đê bao cho “từng khu vực”, chọn các khu vực thường xuyên bị ngập do triều cường làm thí điểm trước, khi có kinh nghiệm mới mở rộng thực hiện tiếp theo.

2/- Với hơn 1.000km kênh, rạch là nơi thoát nước tốt nhất, song hiện nay lại bị lấn chiếm, san lấp vô tội vạ, lại không được nạo vét định kỳ, bao nhiêu rác, nước thải độc hại đổ hết xuống, trở thành những con “kênh nước đen”… Cần phải cương quyết giải tỏa, chỉnh trang và định kỳ nạo vét.

- Cần công khai công bố quy hoạch tất cả các kênh, rạch ở thành phố, công bố lộ trình giải tỏa, khuyến khích những ai tự nguyện giải tỏa sớm (như cấp đất, đền bù thỏa đáng…), cương quyết cưỡng chế những ai đi ngược lại lợi ích của đông đảo nhân dân thành phố.

- Dùng cọc ván bê tông tiền áp để làm kè hai bờ kênh, rạch là tốt nhất, nhanh nhất… so với làm kè đá dễ bị lún nứt do làm móng ở hai bờ kênh, rạch rất khó khăn.

3/- Nếu thành phố chấp nhận dùng “cọc ván bêtông cốt thép dự ứng lực dạng sóng” để làm đê bao, kè bờ kênh, rạch… thì nhanh chóng đầu tư cơ sở sản xuất sản phẩm này. Nếu sử dụng sản phẩm này làm kè lấn biển… thì ít ra phải làm hàng chục ngàn kilômét chiều dài bờ biển thì lo gì đầu ra cho sản phẩm.

Doanh nghiệp này vừa sản xuất vừa thi công dưới hình thức tổng nhận thầu xây dựng chìa khóa trao tay, không lo thiếu việc làm vì không những ở thành phố mà còn nhiều tỉnh lân cận cũng có nhu cầu. Giá thành sản phẩm lúc đó chắc chắn sẽ giảm hơn nhiều so với việc làm thí điểm (như ở thượng nguồn kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, TPHCM).

Trường hợp không muốn hình thành doanh nghiệp mới thì có thể liên doanh với hai doanh nghiệp đang sản xuất các sản phẩm trên là Công ty cổ phần Bê tông 620 Châu Thới và Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Vật tư, họ đã có kinh nghiệm nhờ thi công chống sạt lở, lấn biển… ở nhiều tỉnh phía Nam.

4/- Cần có “Ban chỉ đạo hỗn hợp chống ngập, úng”, bởi chỉ một mình Sở Giao thông Công chính sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì việc giải quyết ngập, úng liên quan nhiều ngành, nhiều quận – huyện… Ban chỉ đạo này do một đồng chí có “đủ quyền lực”, có quyết tâm cao chỉ huy, biết lắng nghe và tiếp thu những ý kiến xây dựng, đồng thời phải “quyết đoán”, không nên để “lắm thầy rầy ma”, “lắm cha con khó lấy chồng”… khiến việc giải quyết hiểm họa ngập, úng kéo dài, thiệt hại ngày càng lớn… Khối lượng công việc nhiều, đầu tư lớn nên phải có thời gian cần thiết chừng 7 – 10 năm mới hoàn thành.

5/- Khi thành phố không còn ngập úng thì ngoài việc thu phí thoát nước, còn phải có thêm “phí chống ngập úng” để thu hồi dần vốn đầu tư, cũng như để trang trải phí vận hành cho cả hệ thống. 

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.