Tương tác thuốc
Một điều thường ít được chú ý: cứ 2 thứ thuốc vào cơ thể thì đã có thể có tương tác với nhau, đừng nói nhiều hơn.
Tương tác có lợi khi thuốc hỗ trợ nhau tăng cường tác dụng. Nhưng có tương tác làm giảm tác dụng của nhau, hoặc gây độc. Nhỏ thì có thể bỏ qua vì phần lợi mà thuốc đem đến quan trọng hơn, nhưng có những trường hợp quá hại, không thể chấp nhận, ảnh hưởng đến sức khoẻ, làm bệnh nặng thêm, có khi gây tử vong.
Vì vậy, ngay cả thầy thuốc khi kê đến 2 loại thuốc, đã cân nhắc đến tương tác, làm sao có tương tác có lợi, mà nếu phải chấp nhận tương tác hại thì trong chừng mực lợi nhiều hơn hại.
Khi đề cập đến phần hại của tương tác, những điều sau đây cần được quan tâm.
- Sự tương tác làm giảm tác dụng của thuốc
Một thuốc muốn có tác dụng cần phải được hấp thu vào máu, nếu lượng thuốc được hấp thu ít hay thời gian để thuốc vào đến máu kéo dài thì tác dụng của thuốc sẽ bị giảm đi.
Tại dạ dày, độ acid dịch vị có ảnh hưởng đến sự hấp thu của một số loại thuốc, vì vậy, các thuốc trung hoà acit dạ dày thường dùng trong các chứng đau do thừa acit dạ dày, viêm dạ dày như thuốc muối natribicarbonat, hydroxyd nhôm, hydroxyd magnê hay thuốc ức chế sự bài tiết acit dịch vị như cimetidin, ranitidin, famotidin làm giảm sự hấp thu của những thuốc kháng viêm không steroid (ibuprofen, diclofenac, indometacin…), penicillin, tetracyclin,…
Những thuốc có khả năng tạo một màng bao phủ niêm mạc đường tiêu hoá như sucralfat, bismuth để trị viêm loét dạ dày hay Smecta trị tiêu chảy cũng ngăn cản sự hấp thu của các thuốc dùng chung với nó vì lớp màng này vừa có tác dụng bảo vệ niêm mạc nhưng lại cũng ngăn cản thuốc không cho thấm vào các mao mạch trong đường tiêu hoá.
Có khi các thuốc uống cùng với nhau lại xảy ra phản ứng tạo thành phức hay tủa làm sự hấp thu của thuốc bị giảm đi, tatracyclin khi uống chung với các chế phẩm chứa sắt hay canxi sẽ làm giảm rõ rệt sự hấp thu của cả kháng sinh này lẫn thuốc kèm theo, vì thế không nên uống tetracyclin với sữa hay uống chung với các thuốc bổ chứa canxi, sắt.
Nếu có xảy ra sự tương tác không lợi giữa 2 loại thuốc đều cần thiết, giải pháp tốt nhất là uống cách nhau 2-3 tiếng đồng hồ.
Tác dụng của thuốc bị giảm cũng có khi là do các thuốc dùng chung có tác dụng đối nghịch nhau. Ví dụ acetylcystein là thuốc có tác dụng làm lỏng đàm nhớt giúp dễ ho khạc để làm thoáng đường hô hấp, nếu dùng chung với một thuốc giảm ho dextromethorphan, người dùng thuốc sẽ không ho nữa, như vậy là mất tác dụng của thuốc long đàm. Sự phối hợp này có thể rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ vì các bé chưa biết khạc, đàm nhớt không thoát ra được, sẽ ứ lại trong đường hô hấp.
Ngay cả các loại vitamin, loại thuốc mà mọi người vẫn nghĩ là bổ, không độc hại, cũng có thể làm ảnh hưởng đến tác dụng của những thuốc khác. Vitamin C nếu dùng liều cao có thể làm mất tác dụng của vitamin B12; vitamin B6 làm mất tác dụng của levodopa trong điều trị bệnh Parkinson…
- Sự tương tác làm tăng độc tính
Tác dụng không mong muốn của thuốc có thể tăng lên khi dùng chung với một thuốc khác.
Aspirin do làm giảm sự kết tập tiểu cầu nên khi dùng chung với thuốc chống đông máu warfarin sẽ làm tăng nguy cơ chảy máu.
Paracetamol là một thuốc giảm đau hạ sốt thường dùng, nhưng độc với gan, tính độc này tăng lên khi dùng chung với isoniazid, vì vậy, những người đang điều trị bệnh lao với isoniazid cần thận trọng khi uống paracetamol, nhất là với liều vượt quá 60mg/kg/ngày. Các thuốc chống co giật phenytoin, barbital cũng làm tăng độc tính ở gan của paracetamol.
Bản thân các thuốc kháng viêm không steroid có phản ứng phụ là gây viêm loét dạ dày, nhưng nếu phối hợp những thuốc này với nhau, nguy cơ xuất huyết tiêu hoá do loét tăng lên.
Thuốc erythromycin khi dùng chung với lovastatin có thể làm tăng nguy cơ bị tiêu cơ vân,…
Sự tương tác thuốc nói chung rất phức tạp, nhưng trong quá trình điều trị vẫn cần có sự phối hợp các thuốc với nhau, khi đó, thầy thuốc sẽ cân nhắc điều chỉnh liều của mỗi thuốc sao cho thích hợp để đạt tác dụng tốt nhất. Không nên tự ý dùng thuốc và nhất là không tuỳ tiện phối hợp nhiều thuốc với nhau khi không có sự hướng dẫn của thầy thuốc.
Nguồn: Thuốc và Sức khoẻ, số 300-301, 15/1-1/2/2006, tr 38, 39








