Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 11/01/2012 22:26 (GMT+7)

Từng bước quản lý bền vững các hệ sinh thái biển

Muôn nẻo các nguồn gây ô nhiễm từ lục địa

Theo số liệu thống kê chung, hiện nay các nguồn thải từ lục địa ra biển chủ yếu là nguồn thải sinh hoạt từ các khu đô thị và du lịch, nguồn thải công nghiệp và nông nghiệp. Nguồn thải sông ít có khả năng gây ô nhiễm tức thời đối với vùng biển ven bờ mà chủ yếu tích tụ một số chất ô nhiễm bền như các kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật… ngưng keo, kết bông tại các bãi triều cửa sông, ven biển hoặc tích lũy trong cơ thể sinh vật. Nguồn thải nông nghiệp cũng có lượng phát thải lớn các chất hữu cơ, dinh dưỡng và hóa chất bảo vệ thực vật nhưng là nguồn phân tán trên đồng ruộng có nhiều khả năng gây ô nhiễm trực tiếp đất nông nghiệp hơn là ảnh hưởng đến môi trường biển. Tuy nhiên, các chất ô nhiễm biển hàng năm được rửa trôi từ đồng ruộng ra biển cũng được tích tụ dần trong môi trường biển.

Trái lại nguồn thải công nghiệp và sinh hoạt thường có tổng lượng thải không lớn so với hai nguồn trên nhưng chúng là những nguồn thải điểm, thành phần gồm nhiều chất nguy hại, có nông độ chất ô nhiễm lớn (lớn hơn nhiều so với môi trường tiếp nhận), thường tập chung ven bờ, xả trực tiếp nước thải ra sông, biển không qua xử lý chưa phù hợp. Hiện tại, nguồn thải công nghiệp sinh hoạt và công nghiệp đang là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là những khu vực vừa tập trung các điểm thải vừa có điều kiện thuận lợi cho tích tụ các chất ô nhiễm.

Một trong số nhiều nguyên nhân gây nên sự gia tăng tải lượng thải các chất ô nhiễm từ lục đia ra vùng biển ven bờ được thấy rõ do: thiếu hành lang pháp lý trong công tác quản lý; chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển ít chú trọng đến vấn đề môi trường; qui hoạch không gian cho phát triển kinh tế - xã hội cuả các tỉnh ven biển chưa quan tâm đến yếu tố vị thế, địa hình, địa mạo của vùng bờ liên quan đến tích tụ chất ô nhiễm, quản lý nguồn thải chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế, xã hội, công tác điều tra, nghiên cứu, quan trắc và xây dựng hệ thống thông tin quản lý về nguồn thải chưa được chú trọng.

Để quản lý nguồn thải, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống luật và văn bản dưới luật về BVMT cũng như các cơ quan quản lý từ cấp trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại và bất cập chính: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nguuồn thải lục địa gây ô nhiễm biển còn chưa đầy đủ và rải rác, thhiếu tính đồng bộ, chưa phân công rõ rang giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp. Công tác quản lý, những tồn tại, bất cập liên quan đến cơ cấu tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Cụ thể: Chồng chéo về phạm vi, đối tượng và thẩm quyền quản lý nhà nước với các cơ quan quản lý nhà nước khác liên quan đến quản lý nguồn thải nói riêng, phân công chưa rõ về vai trò, chức trách và ranh giới thẩm quyền giữa các cơ quan trong thực hiện quản lý nhà nước ở những lĩnh vực công tác đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, chưa có cơ chế hoặc cơ chế pháp lý chưa đủ mạnh để ràng buộc các cơ quan khác có trách nhiệm phối hợp hoặc chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này. Hiệu lực của luật và các qui định ở các cấp, đặc biệt ở cấp địa phương vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Đối với các nguồn ô nhiễm biển từ lục địa, rất ít công trình điều tra, khảo sát và nghiên cứu trực tiếp được khai triển, đồng thời chưa có những qui định cụ thể về vấn đề này. Những nghiên cứu cụ thể và việc công tác về ô nhiễm biển do các nguồn từ lục địa liên quan đến ô nhiễm xuyên biên giới vẫn còn bỏ ngỏ.

Giải pháp cho quản lý bền vững

Thách thức đối với các vùng biển Việt Nam là làm thế nào để tác động ngăn chặn các quá trình tác động để phục hồi sự cân bằng cho các hệ sinh thái. Sự xuống cấp của cửa sông, vùng biển và ven biển, chủ yếu là do các hoạt động trên đất liền. Việc sử dụng sai nguồn tài nguyên thiên nhiên và mục tiêu phát triển kinh tế trước mắt đã dẫn đến suy thoái môi trường nghiêm trọng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn và sự suy thoái hiện nay đang đe dọa đến sức khỏe và lợi ích của dân cư ven biển.

Để bảo vệ được môi trường cần có sự tham gia chi trả của các ngành kinh tế. Giảm các nguồn thải từ các ngành công nghiệp, ô nhiễm dầu, dinh dưỡng từ các hoạt động nông nghiệp, nguồn thải sinh hoạt và công nghiệp để ngăn chặn suy thoái môi trường biển. Thể chế quốc gia cần được xây dựng và sửa đổi theo chính sách và nghị định chung của quốc gia và quốc tế. Cần xây dựng nguyên tắc phòng ngừa bất kỳ khi có một hoạt động nào làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái biển. Nguyên tắc chi trả ô nhiễm nên để cơ sở kinh tế làm hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, nhấn mạnh trách nhiệm của những người gây ô nhiễm phải trả tiền cho hành động của họ.

Tăng cường thể chế: Trong khi chính quyền trung ương có trách nhiệm pháp lý chung thì năng lực giám sát và thực thi pháp luật môi trường chủ yếu thuộc chính quền địa phương. Để thực thi luật, quy định thì cần tăng cường năng lực cho các cơ quan và tổ chức thực hiện và hỗ trợ. Tăng cường năng lực của các tổ chức liên quan là một hành động quan trọng để cải thiện môi trường biển. Cần hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa suy thoái môi trường và sự phát triển của con người tại vùng ven biển. Giám sát liên tục để đánh giá hiện trạng môi trường biển nhằm cải thiện kịp thời. Đây là yếu tố quan trọng để ra những quyết định trong hiện tại và tương lai dựa trên các thông tin đầy đủ căn cứ khoa học.

Xây dựng nhận thức cộng đồng: Nhìn chung, nhận thức môi trường biển còn thấp. Đặc biệt, đối với các đối tượng tiếp xúc trực tiếp với môi trường biển là nông dân và ngư dân cần có các chương trình xây dựng nhận thức cụ thể.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật:Để bảo đảm điều kiện sống an toàn và ngăn chặn suy thoái môi trường, cần cải thiện cơ sở hạ tầng và phương tiện kỹ thuật. Cải thiện cơ sở hạ tầng để xử lý chất thải đô thị, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy lợi, trang bị kỹ thuật trong khai thác và vận chuyển dầu. Cần có ưu tiên rõ ràng để xây dựng, tài trợ và đầu tư chương trình là một phần kế hoạch chung của quốc gia và địa phương.

Hợp tác quốc tế:Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trong khu vực có biển và có chung lưu vực các sông đổ ra biển để giải quyết các vấn đề nguồn ô nhiễm biển từ lục địa. Bên cạnh đó, cần nỗ lực tìm kiếm dự án từ các tổ chức tài trợ quốc tế như Quỹ Môi trường Toàn cầu, Ngân hàng Thế giới… cung cấp vốn dưới hình thức tài trợ và các khoản vay cho các dự án phục hồi hệ sinh thái./.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.