Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 30/09/2011 20:52 (GMT+7)

Trường Lũy và việc nghiên cứu Trường Lũy

Việc đắp các đoạn Trường Lũy, dựng các Bảo ông Trấn dọc miền tây Quảng Ngãi dưới thời Bùi Tá Hán (1496-1568) trấn nhậm đất Quảng Nam (nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) có thể được xem là sự khởi đầu của việc hình thành Tĩnh man Trường lũy, thường được gọi tắt là Trường lũy - cơ bản thành hình khoảng những năm đầu thập kỷ XX, thế kỷ XIX. Nếu tạm xem năm Thành Thái thứ 11 (1899) - năm tổ chức quân sự có tên là Nghĩa Định sơn phòng bị triệt bỏ, ba châu Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ được thành lập, là thời điểm Trường Lũy chấm dứt về cơ bản vai trò của một hệ thống phòng thủ, thì đến nay đã có hơn một thế kỷ, lũy dài này chỉ còn là hiện thể của một mảnh nhỏ quá khứ lịch sử, hay nói cách khác, bản thân cái vật thể chủ yếu đắp bằng đất mà chúng ta đang nói đến, không còn giữ vị trí, ý nghĩa, công năng mà vì đó nó được tạo tác, cho dù đến nay chúng ta vẫn nhận biết sự hiện diện của nó qua thư tịch, tư liệu, giai thoại và sự tồn tại của những đoạn lũy đang nhòa dần hình hài trong không gian miền tây Quảng Ngãi, vì tác động của thiên nhiên và dữ dội hơn, là của con người.

Trường Lũy - hẳn là một vật chứng đáng lưu ý của lịch sử, đặc biệt là lịch sử miền cao tỉnh Quảng Ngãi, và vì vậy, tìm hiểu, khảo sát nghiên cứu về Trường Lũy là cần thiết.

Độ lùi của thời gian hiển nhiên khiến người nghiên cứu dần hiện trạng lịch sử và đó là một bất lợi, nhưng bù lại, sự lùi này lại có thể mang đến một ưu thế khác khi chúng ta đã có thêm thời gian để dụng đến cách tiếp cận khác, lơi dần sự chi phối của các điều kiện chính trị - xã hội, mà vì đó, quá trình và dẫn theo là thành quả nghiên cứu, những luận giải về lịch sử ít nhiều bị thiên lệch hoặc phải chấp nhận thiên lệch. Từ những thập niên cuối thế kỷ XX, chúng ta đã "nhìn lại", "đánh giá lại" những con người như Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, Lê Văn Duyệt…; còn trước đó là các đền đài, lăng tẩm của kinh thành Huế, cùng nhiều công trình kiến trúc được xây dựng với mục đích "phục vụ bộ máy cai trị" của nhà nước phong kiến Việt Nam, đặc biệt là triều Nguyễn. Như vậy, có thể nhìn lại Trường Lũy được chăng?

Thử đưa ra một dẫn dụ: Khiêm lăng (Lăng Tự Đức) được xây dựng bằng công sức của hàng vạn phu phen, binh lính, thợ thuyền đề làm chỗ cho ông vua Tự Đức rong chơi, nghỉ ngơi khi còn sống và an táng khi qua đời. Ấy vậy mà công trình kiến trúc mỹ lệ và đường bệ này là một bộ phận không thể thiếu trong tổng thể hệ thống kiến trúc kinh thành Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, và là niềm vinh dự cho nhân dân Việt Nam, cho văn hóa Việt Nam. Dĩ nhiên chúng ta cũng biết rằng, trong quá trình xây dựng Khiêm lăng, đã từng nổ ra một cuộc khởi loạn của binh lính, phun phen do hai ông Đoàn Trưng, Đoàn Trực lãnh đạo, mà sử gọi là "Loạn chày vôi". "Les politiques passent, les cultures restent" - Chính trị qua đi, nhưng văn hóa thì còn lại, là thế đó!

Chạy dài khoảng đến 177 dặm, từ địa giới phía nam tỉnh Quảng Nam kéo đến phía bắc tỉnh Bình Định, vượt qua bao nhiêu đồi núi, thung lũng, sông ngòi; thời gian xây dựng kéo dài nhiều thế kỷ với hàng vạn ngày công của biền binh, lân dân; dệt quanh mình bao nhiêu giai thoại, gợi nhớ đến nhiều tên tuổi mà lịch sử không thể không nhắc đến dù hay, dù dở theo cách nhìn của thế nhân như Bùi Tá Hán, Nguyễn Cư Trinh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Tấn, Nguyễn Thân…; chứng kiến bao nhiêu biến động của thời cuộc, lẽ nào Trường Lũy không đáng cho người hôm nay tìm hiểu về nó, suy ngẫm về nó?

Như đá nói trên kia, vai trò của Trường Lũy, đối với những người chủ trương xây dựng nó, đã chấm dứt từ hàng thế kỷ trước. Nhà Nguyễn và giai cấp phong kiến Việt Nam đã vĩnh viễn lùi vào xa xăm lịch sử. Nhưng Trường Lũy còn đó, đang hiện diện trước chúng ta và liệu chúng ta có thể ngoảnh mặt với nó mãi mãi?

Chúng tôi thử nêu ra mấy điều sau đây để nói rằng chúng ta không thể và không nên ngoảnh mặt với Trường Lũy:

1) Đắp một thành đất dài dằng dặc, băng qua một vùng địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là những cơn lũ dữ dội vào mùa mưa, mà chỉ bằng công cụ, phương tiện, sức lao động giản đơn, thì quả thật là một kỳ công. Những kinh nghiệm, những bài học ấy chắc không phải là vô ích đối với việc tìm cách hạn chế sự hung hãn của những trận lũ mà chúng ta đang đối mặt hàng năm hiện nay. Trường Lũy có những đoạn được kè đá, với kỹ thuật thô sơ, không dùng chất kết dính bằng xi măng, vôi vữa, vậy mà, vì sao hàng trăm năm qua, trừ những đoạn do con người cố tình phá dỡ, các đoạn thành kè đá vẫn trơ trơ với gió mưa; trong khi không ít những bờ kè, đê bao chống lũ với "đá quy cách", xi măng, rọ đá chống xói lở mà chúng ta ngày nay xây dựng, chỉ qua một mùa lũ lụt đã sạt lở tan hoang. Nghiên cứu về Trường Lũy chắc chắn có thể cho chúng ta những bài học quý không chỉ về kỹ thuật đắp thành mà còn cả những bài học về cung cách quản lý một công trình quy mô lớn.

2) Khảo sát các đoạn Trường Lũy còn sót lại đến nay, rất dễ nhận thấy, dưới chân bờ lũy đất này, người xưa thường trồng theo đó một lũy tre bằng giống tre gai đá rất đặc thù của miền núi phía tây của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Giá trị sử dụng của giống tre này không đa dạng như các giống tre, nứa, lồ ô khác, nhưng nhờ đặc tính chắc thân, nhiều gai, có thể được trồng dọc bờ sông, bờ lũy để ngăn xói lở, trồng phía đầu làng để ngăn con nước mùa lũ. Ngày nay, ở miền tây, các giống tre này đã bị chặt bỏ không thương tiếc để thay vào đó là các giống tre lấy măng, lồ ô, keo lai làm nguyên liệu giấy hoặc trồng mía, trồng mì. Liệu đây có phải là một trong những nguyên nhân góp phần gây nên nạn xói lở dữ dội ở miền núi, đặc biệt là ở vùng triền đồi, triền sông suối hay không? Tri thức bản địa trong việc trồng giống tre gai đá chống xói mòn, ngăn lũ có thể rất cần cho chúng ta ngày nay.

3) Trường Lũy không phải là một thành dài khép chặt như Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc) mà dọc theo Trường Lũy có nhiều nơi được chừa trống để làm đường qua lại giữa hai bên, làm nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa người Kinh và người Thượng - cuộc buôn bán kéo dài nhiều thế kỷ, góp phần đáng kể vào sự ổn định đời sống của người dân và sự phát triển kinh tế của đất nước, vì quả thật, các loại lâm đặc sản của miền tây như trầm hương, quế, cành kiến, gỗ quý, mật ong… từng một thời là hàng xuất khẩu chủ yếu, quan trọng của Đàng Trong và sau đó là cả nước. Chính các cuộc buôn bán này cũng đã sản sinh ra câu ca dân gian nổi tiếng: "Ai về nhắn với nậu nguồn/ mít non gởi xuống cá chuồn gửi lên".

4) Về mặt quân sự, trong một thời gian dài, Trường Lũy gắn liền với việc tổ chức bộ máy và cơ sở quản lý hành chính, quân sự, thuế khóa thời nhà Nguyễn và đi cùng với đó là các thiết chế (Sơn phòng, Quân thứ, Kiên, Cơ, Đồn, Bảo, Lân…), hệ thống quan chức binh (Biền binh, Dân binh…) trong điều kiện đặc thù của vùng miền núi. Vì vậy, nghiên cứu về Trường Lũy cũng là góp phần nghiên cứu về lịch sử quân sự, quản lý hành chính dưới triều Nguyễn, một trong những triều đại phức tạp nhất trong lịch sử Việt Nam, ít nhất là với những gì đang xảy ra với giới sử học trong nhiều thập kỷ qua.

5) Cũng cần lưu ý rằng, trong giai đoạn đầu thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta, từ Sơn phòng, Trường Lũy đã xuất hiện một con người từng đạt đến cực phẩm triều đình, khét tiếng gian hùng, trí trá, một tên người không thể không đề cập khi nghiên cứu về phong trào Cần Vương(đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa dưới cờ Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi, Nguyễn Duy Hiệu ở Quảng Nam, Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh), một kẻ bán nước điển hình có tên là Nguyễn Thân. Từ bên kia đại dương, một cuốn sách dày của tác giả Nguyễn Đức Cung đã được xuất bản, mà mục đích không gì khác là kể công, biện bạch cho Nguyễn Thân. Vậy Nguyễn Thân là ai? Kẻ tay sai ngoại bang gian hùng hay người dày công với nước? Thật vô lý, khi chúng ta cứ né tránh, trong khi ai kia lại nhăm nhăm chủ động đổi trắng thay đen, thậm chí dựng đứng vị đại thần Nguyễn Bá Nghi thành kẻ a tòng với đám mại quốc, hèn mọn, phản phúc. Tìm hiểu về Trường Lũy cũng là lần vào các mối liên hệ phức tạp giữa những sự kiện và con người nêu trên. Sự phức tạp được tạo nên bởi lịch sử và ác thay, bởi các "nhà lịch sử" như Nguyễn Đức Cung. Và hành trình này chắc chắn sẽ vừa góp phần soi sáng nhiều góc khuất của lịch sử, lại vừa có thể chỉ đúng những ngụy biện, tráo trở núp dưới chiêu bài "đọc lại lịch sử".

Suốt một thời gian dài, vì nhiều lý do, mà lý do đáng kể nhất là chiến tranh (và những hệ lụy đi cùng), nên Trường Lũy hầu như không được nhắc đến, hoặc nhắc đến rất hữu hạn, cho dù trước đó, trong các bộ sử, địa chí viết dưới triều Nguyễn, công trình này được đề cập và miêu tả khá cụ thể. Dĩ nhiên, Trường Lũy không hề xa lạ với người dân sống hai bên nó, nhìn thấy nó hàng ngày, cả người Kinh lẫn người Thượng, cho dù cách gọi tên các đoạn lũy còn lại đến ngày nay không giống nhau ở mỗi vùng. Không được nhắc đến hoặc nhắc đến rất hữu hạn, không có nghĩa là giới sử học và các nhà nghiên cứu quân sự, không biết về Trường Lũy. Thật nực cười khi một số bài báo, một số phát biểu trong các tọa đàm, tham luận gần đây cho rằng cuộc tìm hiểu, khai quật, nghiên cứu Trường Lũy của một nhóm làm việc thuộc Trung tâm Viễn đông Bác Cổ tại Hà Nội (Centre de l'EFEO à Hà Nội) và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam mấy năm qua như thể đã phát hiện ra một Bờ Lũy (cách gọi Trường Lũy của nhóm này) ở miền tây Quảng Ngãi bị khuất lấp trong lịch sử, cho dù các nhà khoa học trực tiếp tham gia nhóm làm việc, trong đó có Andrew Hardy của EFEO và Nguyễn Tiến Đông của Viện KHXHVN, không bao giờ nghĩ hoặc nói như vậy. Cũng cần nói thêm ở đây rằng, với tư cách là những người bạn thân thiết, ít nhiều đã từng cộng tác trong quá trình nghiên cứu Trường Lũy và trên tinh thần khoa học trong sáng, vô tư, người viết những dòng này sẽ còn tiếp tục tranh luận với A. Hardy và Nguyễn Tiến Đông về những giả thuyết liên quan đến Trường Lũy mà hai người đã và sẽ đưa ra. Những tranh luận "rất sướng" như A. Hardy từng nói, rất sõi, cả âm thanh của ngôn ngữ Việt lẫn cái được biểu đạt không biên giới, nằm ngoài ngôn ngữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài thơ chữ Hán về Vạn Lý Trường Thành, như sau:

Vịnh Vạn Lý Trường Thành

Thính thuyết Trường Thành vạn lý trường,

Đầu liên Đông hải vĩ Tây Cương

Kỷ thiên bách vạn lao động giả,

Kiến trúc tư thành trấn nhất phương.

Nghe nói Trường Thành vạn dặm trường

Chạy từ Đông Hải đến Tây Cương

Hàng bao nhiêu triệu người lao động

Xây dựng thành này trấn một phương.

(Bản dịch Viện Văn học)

Vạn Lý Trường Thành được xây với mục đích "ngăn rợ Hồ" phương Bắc, như cách nói của nhà nước phong kiến Hoa Hạ. Thế nhưng, Vạn Lý Trường Thành đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại từ năm 1987, thậm chí là một trong 7 kỳ quan thế giới như vừa được bình chọn. Khỏi phải nói, người Trung Quốc đã tự hào như thế nào về tòa thành dằng dặc từng một thời làm công cụ "trấn một phương" - tự hào đến nỗi Mao Trạch Đông từng viết "Bất đáo trường thành phi hảo hán!" và dòng chữ này được khắc vào bia đá dựng dưới chân Trường Thành để du khách đến đây hầu như ai cũng ghé lại, vin lấy tấm bia, chụp một bức ảnh làm kỷ niệm.

Chúng ta có thể ứng xử với Trường Lũy như người Trung Hoa đã ứng xử với Vạn Lý Trường Thành, như người Anh ứng xử với lũy Offa được chăng?

Chú thích:

1)     Nguyễn Bá Trác chủ trương, Quảng Ngãi tỉnh chí - in trên Nam Phongtạp chí năm 1933; mục Sơn Phòng.

2)     Nguyễn Đức Cung, Diên Lộc Quận công Nguyễn Thân 1853 – 1914.Nhật Lệ; New Jersey – USD; 2002.

3)     Trường Lũy được vẽ khá chi tiết trong bản đồ quân sự Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam. Một số đoạn lũy được sử dụng như đường giao liên của quân Giải phóng.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.