Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 30/09/2011 20:52 (GMT+7)

Trường Lũy và việc nghiên cứu Trường Lũy

Việc đắp các đoạn Trường Lũy, dựng các Bảo ông Trấn dọc miền tây Quảng Ngãi dưới thời Bùi Tá Hán (1496-1568) trấn nhậm đất Quảng Nam (nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) có thể được xem là sự khởi đầu của việc hình thành Tĩnh man Trường lũy, thường được gọi tắt là Trường lũy - cơ bản thành hình khoảng những năm đầu thập kỷ XX, thế kỷ XIX. Nếu tạm xem năm Thành Thái thứ 11 (1899) - năm tổ chức quân sự có tên là Nghĩa Định sơn phòng bị triệt bỏ, ba châu Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ được thành lập, là thời điểm Trường Lũy chấm dứt về cơ bản vai trò của một hệ thống phòng thủ, thì đến nay đã có hơn một thế kỷ, lũy dài này chỉ còn là hiện thể của một mảnh nhỏ quá khứ lịch sử, hay nói cách khác, bản thân cái vật thể chủ yếu đắp bằng đất mà chúng ta đang nói đến, không còn giữ vị trí, ý nghĩa, công năng mà vì đó nó được tạo tác, cho dù đến nay chúng ta vẫn nhận biết sự hiện diện của nó qua thư tịch, tư liệu, giai thoại và sự tồn tại của những đoạn lũy đang nhòa dần hình hài trong không gian miền tây Quảng Ngãi, vì tác động của thiên nhiên và dữ dội hơn, là của con người.

Trường Lũy - hẳn là một vật chứng đáng lưu ý của lịch sử, đặc biệt là lịch sử miền cao tỉnh Quảng Ngãi, và vì vậy, tìm hiểu, khảo sát nghiên cứu về Trường Lũy là cần thiết.

Độ lùi của thời gian hiển nhiên khiến người nghiên cứu dần hiện trạng lịch sử và đó là một bất lợi, nhưng bù lại, sự lùi này lại có thể mang đến một ưu thế khác khi chúng ta đã có thêm thời gian để dụng đến cách tiếp cận khác, lơi dần sự chi phối của các điều kiện chính trị - xã hội, mà vì đó, quá trình và dẫn theo là thành quả nghiên cứu, những luận giải về lịch sử ít nhiều bị thiên lệch hoặc phải chấp nhận thiên lệch. Từ những thập niên cuối thế kỷ XX, chúng ta đã "nhìn lại", "đánh giá lại" những con người như Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, Lê Văn Duyệt…; còn trước đó là các đền đài, lăng tẩm của kinh thành Huế, cùng nhiều công trình kiến trúc được xây dựng với mục đích "phục vụ bộ máy cai trị" của nhà nước phong kiến Việt Nam, đặc biệt là triều Nguyễn. Như vậy, có thể nhìn lại Trường Lũy được chăng?

Thử đưa ra một dẫn dụ: Khiêm lăng (Lăng Tự Đức) được xây dựng bằng công sức của hàng vạn phu phen, binh lính, thợ thuyền đề làm chỗ cho ông vua Tự Đức rong chơi, nghỉ ngơi khi còn sống và an táng khi qua đời. Ấy vậy mà công trình kiến trúc mỹ lệ và đường bệ này là một bộ phận không thể thiếu trong tổng thể hệ thống kiến trúc kinh thành Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, và là niềm vinh dự cho nhân dân Việt Nam, cho văn hóa Việt Nam. Dĩ nhiên chúng ta cũng biết rằng, trong quá trình xây dựng Khiêm lăng, đã từng nổ ra một cuộc khởi loạn của binh lính, phun phen do hai ông Đoàn Trưng, Đoàn Trực lãnh đạo, mà sử gọi là "Loạn chày vôi". "Les politiques passent, les cultures restent" - Chính trị qua đi, nhưng văn hóa thì còn lại, là thế đó!

Chạy dài khoảng đến 177 dặm, từ địa giới phía nam tỉnh Quảng Nam kéo đến phía bắc tỉnh Bình Định, vượt qua bao nhiêu đồi núi, thung lũng, sông ngòi; thời gian xây dựng kéo dài nhiều thế kỷ với hàng vạn ngày công của biền binh, lân dân; dệt quanh mình bao nhiêu giai thoại, gợi nhớ đến nhiều tên tuổi mà lịch sử không thể không nhắc đến dù hay, dù dở theo cách nhìn của thế nhân như Bùi Tá Hán, Nguyễn Cư Trinh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Tấn, Nguyễn Thân…; chứng kiến bao nhiêu biến động của thời cuộc, lẽ nào Trường Lũy không đáng cho người hôm nay tìm hiểu về nó, suy ngẫm về nó?

Như đá nói trên kia, vai trò của Trường Lũy, đối với những người chủ trương xây dựng nó, đã chấm dứt từ hàng thế kỷ trước. Nhà Nguyễn và giai cấp phong kiến Việt Nam đã vĩnh viễn lùi vào xa xăm lịch sử. Nhưng Trường Lũy còn đó, đang hiện diện trước chúng ta và liệu chúng ta có thể ngoảnh mặt với nó mãi mãi?

Chúng tôi thử nêu ra mấy điều sau đây để nói rằng chúng ta không thể và không nên ngoảnh mặt với Trường Lũy:

1) Đắp một thành đất dài dằng dặc, băng qua một vùng địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là những cơn lũ dữ dội vào mùa mưa, mà chỉ bằng công cụ, phương tiện, sức lao động giản đơn, thì quả thật là một kỳ công. Những kinh nghiệm, những bài học ấy chắc không phải là vô ích đối với việc tìm cách hạn chế sự hung hãn của những trận lũ mà chúng ta đang đối mặt hàng năm hiện nay. Trường Lũy có những đoạn được kè đá, với kỹ thuật thô sơ, không dùng chất kết dính bằng xi măng, vôi vữa, vậy mà, vì sao hàng trăm năm qua, trừ những đoạn do con người cố tình phá dỡ, các đoạn thành kè đá vẫn trơ trơ với gió mưa; trong khi không ít những bờ kè, đê bao chống lũ với "đá quy cách", xi măng, rọ đá chống xói lở mà chúng ta ngày nay xây dựng, chỉ qua một mùa lũ lụt đã sạt lở tan hoang. Nghiên cứu về Trường Lũy chắc chắn có thể cho chúng ta những bài học quý không chỉ về kỹ thuật đắp thành mà còn cả những bài học về cung cách quản lý một công trình quy mô lớn.

2) Khảo sát các đoạn Trường Lũy còn sót lại đến nay, rất dễ nhận thấy, dưới chân bờ lũy đất này, người xưa thường trồng theo đó một lũy tre bằng giống tre gai đá rất đặc thù của miền núi phía tây của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Giá trị sử dụng của giống tre này không đa dạng như các giống tre, nứa, lồ ô khác, nhưng nhờ đặc tính chắc thân, nhiều gai, có thể được trồng dọc bờ sông, bờ lũy để ngăn xói lở, trồng phía đầu làng để ngăn con nước mùa lũ. Ngày nay, ở miền tây, các giống tre này đã bị chặt bỏ không thương tiếc để thay vào đó là các giống tre lấy măng, lồ ô, keo lai làm nguyên liệu giấy hoặc trồng mía, trồng mì. Liệu đây có phải là một trong những nguyên nhân góp phần gây nên nạn xói lở dữ dội ở miền núi, đặc biệt là ở vùng triền đồi, triền sông suối hay không? Tri thức bản địa trong việc trồng giống tre gai đá chống xói mòn, ngăn lũ có thể rất cần cho chúng ta ngày nay.

3) Trường Lũy không phải là một thành dài khép chặt như Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc) mà dọc theo Trường Lũy có nhiều nơi được chừa trống để làm đường qua lại giữa hai bên, làm nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa người Kinh và người Thượng - cuộc buôn bán kéo dài nhiều thế kỷ, góp phần đáng kể vào sự ổn định đời sống của người dân và sự phát triển kinh tế của đất nước, vì quả thật, các loại lâm đặc sản của miền tây như trầm hương, quế, cành kiến, gỗ quý, mật ong… từng một thời là hàng xuất khẩu chủ yếu, quan trọng của Đàng Trong và sau đó là cả nước. Chính các cuộc buôn bán này cũng đã sản sinh ra câu ca dân gian nổi tiếng: "Ai về nhắn với nậu nguồn/ mít non gởi xuống cá chuồn gửi lên".

4) Về mặt quân sự, trong một thời gian dài, Trường Lũy gắn liền với việc tổ chức bộ máy và cơ sở quản lý hành chính, quân sự, thuế khóa thời nhà Nguyễn và đi cùng với đó là các thiết chế (Sơn phòng, Quân thứ, Kiên, Cơ, Đồn, Bảo, Lân…), hệ thống quan chức binh (Biền binh, Dân binh…) trong điều kiện đặc thù của vùng miền núi. Vì vậy, nghiên cứu về Trường Lũy cũng là góp phần nghiên cứu về lịch sử quân sự, quản lý hành chính dưới triều Nguyễn, một trong những triều đại phức tạp nhất trong lịch sử Việt Nam, ít nhất là với những gì đang xảy ra với giới sử học trong nhiều thập kỷ qua.

5) Cũng cần lưu ý rằng, trong giai đoạn đầu thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta, từ Sơn phòng, Trường Lũy đã xuất hiện một con người từng đạt đến cực phẩm triều đình, khét tiếng gian hùng, trí trá, một tên người không thể không đề cập khi nghiên cứu về phong trào Cần Vương(đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa dưới cờ Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi, Nguyễn Duy Hiệu ở Quảng Nam, Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh), một kẻ bán nước điển hình có tên là Nguyễn Thân. Từ bên kia đại dương, một cuốn sách dày của tác giả Nguyễn Đức Cung đã được xuất bản, mà mục đích không gì khác là kể công, biện bạch cho Nguyễn Thân. Vậy Nguyễn Thân là ai? Kẻ tay sai ngoại bang gian hùng hay người dày công với nước? Thật vô lý, khi chúng ta cứ né tránh, trong khi ai kia lại nhăm nhăm chủ động đổi trắng thay đen, thậm chí dựng đứng vị đại thần Nguyễn Bá Nghi thành kẻ a tòng với đám mại quốc, hèn mọn, phản phúc. Tìm hiểu về Trường Lũy cũng là lần vào các mối liên hệ phức tạp giữa những sự kiện và con người nêu trên. Sự phức tạp được tạo nên bởi lịch sử và ác thay, bởi các "nhà lịch sử" như Nguyễn Đức Cung. Và hành trình này chắc chắn sẽ vừa góp phần soi sáng nhiều góc khuất của lịch sử, lại vừa có thể chỉ đúng những ngụy biện, tráo trở núp dưới chiêu bài "đọc lại lịch sử".

Suốt một thời gian dài, vì nhiều lý do, mà lý do đáng kể nhất là chiến tranh (và những hệ lụy đi cùng), nên Trường Lũy hầu như không được nhắc đến, hoặc nhắc đến rất hữu hạn, cho dù trước đó, trong các bộ sử, địa chí viết dưới triều Nguyễn, công trình này được đề cập và miêu tả khá cụ thể. Dĩ nhiên, Trường Lũy không hề xa lạ với người dân sống hai bên nó, nhìn thấy nó hàng ngày, cả người Kinh lẫn người Thượng, cho dù cách gọi tên các đoạn lũy còn lại đến ngày nay không giống nhau ở mỗi vùng. Không được nhắc đến hoặc nhắc đến rất hữu hạn, không có nghĩa là giới sử học và các nhà nghiên cứu quân sự, không biết về Trường Lũy. Thật nực cười khi một số bài báo, một số phát biểu trong các tọa đàm, tham luận gần đây cho rằng cuộc tìm hiểu, khai quật, nghiên cứu Trường Lũy của một nhóm làm việc thuộc Trung tâm Viễn đông Bác Cổ tại Hà Nội (Centre de l'EFEO à Hà Nội) và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam mấy năm qua như thể đã phát hiện ra một Bờ Lũy (cách gọi Trường Lũy của nhóm này) ở miền tây Quảng Ngãi bị khuất lấp trong lịch sử, cho dù các nhà khoa học trực tiếp tham gia nhóm làm việc, trong đó có Andrew Hardy của EFEO và Nguyễn Tiến Đông của Viện KHXHVN, không bao giờ nghĩ hoặc nói như vậy. Cũng cần nói thêm ở đây rằng, với tư cách là những người bạn thân thiết, ít nhiều đã từng cộng tác trong quá trình nghiên cứu Trường Lũy và trên tinh thần khoa học trong sáng, vô tư, người viết những dòng này sẽ còn tiếp tục tranh luận với A. Hardy và Nguyễn Tiến Đông về những giả thuyết liên quan đến Trường Lũy mà hai người đã và sẽ đưa ra. Những tranh luận "rất sướng" như A. Hardy từng nói, rất sõi, cả âm thanh của ngôn ngữ Việt lẫn cái được biểu đạt không biên giới, nằm ngoài ngôn ngữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài thơ chữ Hán về Vạn Lý Trường Thành, như sau:

Vịnh Vạn Lý Trường Thành

Thính thuyết Trường Thành vạn lý trường,

Đầu liên Đông hải vĩ Tây Cương

Kỷ thiên bách vạn lao động giả,

Kiến trúc tư thành trấn nhất phương.

Nghe nói Trường Thành vạn dặm trường

Chạy từ Đông Hải đến Tây Cương

Hàng bao nhiêu triệu người lao động

Xây dựng thành này trấn một phương.

(Bản dịch Viện Văn học)

Vạn Lý Trường Thành được xây với mục đích "ngăn rợ Hồ" phương Bắc, như cách nói của nhà nước phong kiến Hoa Hạ. Thế nhưng, Vạn Lý Trường Thành đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại từ năm 1987, thậm chí là một trong 7 kỳ quan thế giới như vừa được bình chọn. Khỏi phải nói, người Trung Quốc đã tự hào như thế nào về tòa thành dằng dặc từng một thời làm công cụ "trấn một phương" - tự hào đến nỗi Mao Trạch Đông từng viết "Bất đáo trường thành phi hảo hán!" và dòng chữ này được khắc vào bia đá dựng dưới chân Trường Thành để du khách đến đây hầu như ai cũng ghé lại, vin lấy tấm bia, chụp một bức ảnh làm kỷ niệm.

Chúng ta có thể ứng xử với Trường Lũy như người Trung Hoa đã ứng xử với Vạn Lý Trường Thành, như người Anh ứng xử với lũy Offa được chăng?

Chú thích:

1)     Nguyễn Bá Trác chủ trương, Quảng Ngãi tỉnh chí - in trên Nam Phongtạp chí năm 1933; mục Sơn Phòng.

2)     Nguyễn Đức Cung, Diên Lộc Quận công Nguyễn Thân 1853 – 1914.Nhật Lệ; New Jersey – USD; 2002.

3)     Trường Lũy được vẽ khá chi tiết trong bản đồ quân sự Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam. Một số đoạn lũy được sử dụng như đường giao liên của quân Giải phóng.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.