Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 13/02/2012 20:28 (GMT+7)

Trông Nga, Australia, nền khoa học Việt Nam ngẫm gì?

Dưới đây là cuộc trao đổi giữa hai nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, GS Nguyễn Văn Tuấn (ĐH New South Wales, Australia) và TS Lê Văn Út (ĐH Oulu, Phần Lan) về nền khoa học Nga, Australia và liên hệ sang Việt Nam.

Khoa học Nga hay Australia tốt hơn?

TS. Lê Văn Út:Trong bài viết ngày 14/1/2012 trên Tia sáng, một nhà khoa học Việt Namđã so sánh nền khoa học Nga và Australia . Tôi cũng có làm bảng thống kê các công trình và sáng chế của hai nền khoa học trên. Còn ông, nhận xét của ông thế nào?

GS. Nguyễn Văn Tuấn:Tôi thấy những dữ liệu trên rất thú vị và có ích. Tôi sống ở Australiacũng lâu, nhưng ít khi nào có dịp so sánh khoa học của Australiavới các nước khác, và đây là lần đầu tiên tôi thấy những con số phản ảnh một phần nào hoạt động khoa học giữa hai nước Nga và Australia .

Những dữ liệu này cho thấy một cách khách quan rằng nền khoa học Australia tuy còn ”non trẻ” nhưng có phần trội hơn nền khoa học Nga. Tuy dân số nước này chỉ bằng 15% dân số Nga, nhưng số bài báo khoa học trên các tập san ISI cao hơn Nga 42%, trong đó số công trình trên Nature và Science của Australia cao hơn Nga gấp 4 lần. Nên nhớ rằng đây là so sánh trong thời gian 10 năm qua, tức sau khi Nga đã trở thành một nước dân chủ, chủ động hội nhập quốc tế, và đã đầu tư hàng tỉ USD cho nghiên cứu khoa học.

Cố nhiên, cũng không nên so sánh chỉ dưạ vào số ấn phẩm khoa học ISI. Vì vấn đề tiếng Anh nên các nhà khoa học Nga có thể gặp khó khăn trong công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san ISI mà phần lớn viết bằng tiếng Anh. Một chỉ số khác có lẽ khách quan hơn là số bằng sánh chế. Số liệu trên cho thấy số bằng sáng chế của Australia cao hơn Nga gần 6 lần.

Chỉ tiêu

Nga

Australia

Dân số (triệu)

142,8

21,5

Công trình ISI

307,352

438,955

Công trình Nature, Science

302

1.260

Giải Nobel

3

4

Bằng sáng chế (Mỹ)

1.958

11.350

Xếp hạng cạnh tranh kinh tế

66

20

Thu nhập bình quân (USD)

9.900

43.590

(Dữ liệu được truy xuất vào ngày 16/1/2012 đối với 10 năm gần nhất 2002 - 2011, trừ xếp hạng cạnh tranh toàn cầu về kinh tế. Đối với bằng sáng chế Mỹ, người viết dùng dữ liệu 10 năm 2001 - 2010)

Một cách so sánh khác là dựa vào chỉ số H. Trong bảng xếp hạng về khoa học của SJR (SCImago Journal and Country ranking), tính chung cho tất cả các ngành khoa học, thì Australia đứng hạng 11 (trong số 236 nước trên thế giới) với chỉ số H là 450, và Nga đứng hạng 12 với chỉ số H 285. Tuy nhiên, có sự khác biệt trong từng lĩnh vực nghiên cứu.

Chẳng hạn như về toán học thì Nga (hạng 10) cao hơn Úc (hạng 13). Về vật lí, Nga đứng hạng 5 với chỉ số H 214, cao hơn Australia (hạng 18, với chỉ số H 146). Nhưng trong lĩnh vực y khoa, Australia đứng hạng 10 (chỉ số H là 325), trong khi đó Nga đứng hạng 38 (chỉ số H 113).

Nói tóm lại, những con số này cho thấy rõ ràng rằng năng suất khoa học của Australia hơn hẳn Nga, và quan trọng hơn là những thành tựu nghiên cứu khoa học của Australia được chuyển giao sang ứng dụng (thể hiện qua bằng sáng chế) hơn thành tự ứng dụng của Nga.

TS. Lê Văn Út: Tạp chí Nature vừa đăng những phàn nàn của các nhà khoa học Nga  về những bất cập trong môi trường khoa học Nga. Úc có đang gặp phải những bất cập trên không, thưa ông?

GS. Nguyễn Văn Tuấn:Những vấn đề các nhà khoa học Nga phàn nàn là vấn đề lương bổng cho giới khoa học quá thấp, tham nhũng trong tài trợ cho nghiên cứu khoa học, thiếu chuẩn mực để đánh giá nghiên cứu khoa học...

Australiakhông có những vấn đề mà các nhà khoa học Nga phàn nàn. Nhưng các nhà khoa học ở Australia phàn nàn nhiều về vấn đề ngân sách nghiên cứu khoa học.

Khoảng 10 năm trở lại đây, ngân sách dành cho khoa học của Australia càng ngày càng bị cắt giảm, một phần do kinh tế gặp khó khăn nhưng phần khác do ảnh hưởng của chính sách. Hệ quả là nhiều nhà khoa học Australia bỏ nước sang ”đầu quân” cho các nước lớn hơn như Mĩ và Anh.

Bất cập giống Nga, Việt  Nam khắc phục sao?

TS. Lê Văn Út:Là người thường xuyên có các hoạt động khoa học ở Việt Nam, xin ông vui lòng cho biết những bất cập của nền khoa học Việt Nam hiện tại là gì? Những bất cập này có giống với ở Nga không, thưa ông?

GS. Nguyễn Văn Tuấn:Những bất cập về việc tài trợ cho nghiên cứu khoa học ở nước ta rất giống với những gì các nhà khoa học Nga phàn nàn. Những vấn đề nổi cộm ở nước ta là (a) lương bổng bất hợp lí, (b) hệ thống bình duyệt để cấp tài trợ còn nhiều bất cập, và (c) thiếu chuẩn mực trong việc đánh giá và quản lí công trình khoa học.

Nếu ở Nga, lương một giáo sư thực thụ còn kém hơn thu nhập trung bình của người dân Moscow, thì ở Việt Nam, lương của một giáo sư có khi còn thấp hơn lương của một kĩ sư mới ra trường làm cho công ty nước ngoài.

Ở Việt Nam , ít có nhà khoa học nào sống bằng đồng lương, họ phải bươn chãi tìm việc khác chẳng liên quan gì đến chuyên môn để kiếm thêm thu nhập. Ai cũng biết đồng lương cho nhà khoa học là bất hợp lí, nhưng cho đến nay hình như chẳng ai có hành động gì để khắc phục vấn đề. 

Hệ thống bình duyệt cấp tài trợ cho nghiên cứu khoa học còn tồn tại rất nhiều vấn đề. Vấn đề lớn nhất là thiếu chuyên gia có trình độ chuyên môn đủ và có kinh nghiệm tốt để có thể thẩm định đề tài nghiên cứu một cách khách quan. Trong nhiều ”hội đồng phản biện”, có khi các chuyên gia phát biểu sai vì họ không hiểu vấn đề chuyên môn, hoặc chẳng có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học.

Thật ra, có khi chính họ cũng chẳng hiểu họ nói gì! GS Phạm Duy Hiển có lần tâm sự rằng ông rất sợ phải trình đề cương nghiên cứu của ông cho hội đồng khoa học mà trong đó chẳng ai biết ông làm gì và đưa ra những nhận xét cảm tính và thiếu tính chuyên nghiệp. Đây là vấn đề lớn làm chùn bước rất rất nhiều nhà khoa học trẻ muốn làm nghiên cứu ở Việt Nam .

Có thể nói rằng ở Việt Nam thiếu những chuẩn mực khách quan để đánh giá nghiên cứu khoa học. Nhiều nghiên cứu mà ý tưởng chẳng có gì mới (kiểu ”me too”) hoặc tính khả thi có vấn đề, nhưng vẫn được cấp tài trợ; ngược lại, có những nghiên cứu có khả năng đóng góp vào tri thức khoa học và thiết thực cho Việt Nam thì không được tài trợ. Ngay cả khâu nghiệm thu cũng có vấn đề về chuẩn mực. Người chủ trì đề tài chỉ đơn giản trình bày một báo cáo dài, có khi chẳng có công bố quốc tế nào (hoặc có nhưng chỉ trên một tạp chí địa phương không có bình duyệt) và xem đó là ”thành quả” của nghiên cứu! Đó không phải là chuẩn mực quốc tế.

Ở Việt Nam , các nhà khoa học rất sợ cơ quan quản lí khoa học. Họ sợ thủ tục hành chính mà nói theo dân gian là ”hành” là chính. Những thủ tục rườm rà, mà thoạt đầu tôi nghe qua tưởng như đùa, nhưng hoàn toàn có thật. Những thủ tục và qui định này tạo điều kiện cho các quan chức hành chính có cơ hội làm khó (nếu cần) – chứ không phải giúp đỡ — cho các nhà khoa học.

TS. Lê Văn Út:Theo ông, Việt Nam nên làm gì để khắc phục những bất cập trong nền khoa học mình?

GS. Nguyễn Văn Tuấn:Việt Nam cần làm rất nhiều để khắc phục những bất cập nêu trên. Trước mắt, tôi nghĩ đến 4 việc liên quan đến những vấn đề tôi vừa nêu:

Thứ nhấtlà phải cải cách chế độ lương bổng cho nhà khoa học. Nhà khoa học cần phải có thu nhập xứng đáng với trình độ chuyên môn và khả năng thực của họ. Cần phải thiết lập các chế độ khen thưởng cho các nhà khoa học có công trình xuất sắc trên các tập san quốc tế có ảnh hưởng cao. Tôi nghĩ đến việc thiết lập các chương trình fellowship để thu hút và nuôi dưỡng những nhà khoa học có thực tài, những người sẽ đóng vai trò lãnh đạo các nhóm nghiên cứu khoa học.

Thứ hailà phải cải cách hệ thống cung cấp tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Cải cách từ khâu tổ chức, đánh giá đề tài, đến quản lí. Về tổ chức, nên bỏ đi những hệ thống cấp Nhà nước và cấp bộ, và thay vào đó là một cơ chế tài trợ độc lập với các bộ nhưng do các nhà khoa học quản lí và điều hành. Cơ chế này có thể chỉ có 2 hội đồng tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản (basic research) và nghiên cứu chuyển giao công nghệ (translation research). Ngân sách nghiên cứu sẽ do các bộ cung cấp, nhưng quyết định cấp duyệt đề tài sẽ do các nhà khoa học phụ trách. Ngoài ra, cần phải đa dạng hóa hình thức tài trợ. Không chỉ tài trợ cho nghiên cứu, mà còn phải tài trợ cho các cá nhân xuất sắc với định hướng tạo ra một thế hệ tiếp nối trong việc lãnh đạo khoa học.

Thứ balà phải chấn chỉnh lại các hội đồng khoa học, cách đánh giá và quản lí. Phải dứt khoát loại bỏ những ”chuyên gia” không có trình độ chuyên môn trong các hội đồng khoa học, và thay vào đó những người có khả năng học thuật và kinh nghiệm thực tế được minh chứng qua các công trình đã công bố. Nếu cần, có thể mời chuyên gia nước ngoài tham gia các hội đồng khoa học. Về đánh giá đề tài nghiên cứu, cần phải dựa vào những chuẩn mực khách quan mà cộng đồng quốc tế công nhận. 

Về quản lí, phải làm cho thủ tục tinh giản hơn, chứ như hiện nay thì thủ tục chỉ ”hành” là chính và tạo cơ hội cho cửa quyền, nhũng nhiễu, hối lộ. Không nên bắt buộc nhà khoa học phải làm nghiệm thu giữa kì, và càng bỏ thủ tục nghiệm thu tốn kém như hiện nay. Thay vào đó là những chuẩn mực như công bố quốc tế, bằng sáng chế, đào tạo nghiên cứu sinh... Chỉ có các chuyên gia trong ngành mới đánh giá được thành tựu của nghiên cứu, và công bố quốc tế là một hình thức ”kiểm định acid” để tất cả đồng nghiệp quốc gia và quốc tế kiểm tra. Điều này đòi hỏi công bố quốc tế như là một chuẩn mực để ”nghiệm thu” đề tài nghiên cứu.

Thứ tưlà tôi đề nghị Việt Nam nên lập ra một vài tập san khoa học bằng tiếng Anh, với chiều hướng đưa các tập san này vào hệ thống ISI. Hiện nay, chúng ta chưa có tập san khoa học nào viết bằng tiếng Anh mà được ISI công nhận. Trong thực tế, tôi nghĩ các nhà khoa học Việt Nam có khả năng lập ra vài tập san viết bằng tiếng Anh, có bình duyệt (peer review), với ban biên tập quốc tế, để trong vòng 2-3 năm đưa vào hệ thống ISI.

Tôi tin rằng những nỗ lực đề nghị trên sẽ góp phần phát huy tiềm năng của khoa học nước nhà, và có thể nâng cao khoa học Việt Nam trên trường quốc tế.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.