Trò cá giải, cơm thi trong hội làng Quỳ Chử
Kẻ Tổ là tên Nôm, việc đổi tên thành làng Quỳ Chử là một giai thoại gắn với kỷ niệm về Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn. Trên những chặng đường chiến đấu, có một lần Lê Lợi và quân của ông bị địch truy đuổi gắt gao. Trời đã sắp tối, thấy bờ bên kia có một căn nhà tranh lụp xụp ẩn sau luỹ tre xanh, Lê Lợi băng qua sông, đi thẳng đến và được một bà lão cứu thoát. Khi giặc đã đi xa, nhìn thấy Lê Lợi mệt mỏi, bà lão vội vàng nhóm lửa nấu cơm. Bữa cơm đạm bạc chỉ có rau dền hái trên bờ sông Dọc nấu với tép khô nhưng Lê Lợi ăn rất ngon lành. Biết tên làng là Tổ cá phường, cảm tạ ơn bà lão đã cứu mình thoát nạn, Lê Lợi nói với bà lão là đổi tên làng thành Quỳ Chử, nghĩa là bến rau quỳ (1).
Hiện nay, làng Quỳ Chử thuộc xã Hoàng Quỳ, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nằm về phía tả ngạn sông Mã, giáp các xã Hoàng Phú, Hoàng Quý, Ích Hạ, Trọng Hậu, Đông Khê, An Phú.
Làng Quỳ Chử được tạo thành bởi ba thôn (thôn Đông, thôn Trung, thôn Thịnh Mỹ) bao gồm bốn giáp, mỗi thôn có một đình riêng. Mỗi khi bàn việc chung thì làng họp ở đền thờ Lê Phụng Hiểu là nơi tổ chức hai kỳ lễ lớn của làng trong năm.
Vốn là một làng Việt truyền thống, làng Quỳ Chử có rất nhiều sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng. Hội làng tổ chức từ ngày 2 đến ngày 8 tháng hai âm lịch. Từ ba thôn đại điện cho bốn dòng họ lớn trong làng, người ta tập hợp về đình làm lễ hội, "ba thôn bốn giáp tế chung một đình". Hàng năm, ngoài kỳ phúc tháng hai và tháng chạp còn có lễ Thánh Tến, lễ Thánh bà cầu mong cho dân làng nhân khang vật thịnh, trong hội có nhiều trò diễn độc đáo như chèo chải, vật, tế nữ quan, tú huần, cá giải cơm thi… Nhưng trò diễn hấp dẫn, đông vui, được người dân làng Quỳ Chử mong đợi và cổ vũ náo nhiệt nhất là hội đua thuyền thi nấu cơm - cá giải.
Công việc chuẩn bị cho hội thi khá công phu, cuốn hút mọi người nhất là việc trang trí thuyền. Thuyền gồm các loại thuyền rồng, thuyền thúng, thuyền cá chép, thuyền cá mè. Mọi người trong làng đều góp công làm nên những con thuyền đẹp nhất, lộng lẫy và chắc chắn nhất cho cuộc thi. Thuyền rồng là biểu trưng cho nòi giống tổ tiên con Lạc cháu Hồng. Các loại thuyền cá, thuyền thúng là biểu trưng cho truyền thống nghề nghiệp của quê hương. Hội thi nấu cơm tổ chức ở ao thôn Trung, vì ao này to đẹp ở giữa làng.
Ngày hội làng, cả làng dậy từ mờ sớm, thắp hương cúng gia tiên rồi ăn uống, trang điểm, cùng nhau tham dự lễ hội. Giữa không khí của mùa xuân, bỗng vang lên ba hồi chiêng trống rộn ràng. Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn như thúc giục mọi người nhanh bước. Rồi tiếng mõ "Cốc! cốc! cốc!" và giọng lanh lảnh cất cao: "Chiềng làng mời quan viên, quan lão, quan trùm cùng bàn năm đại hạ ra ao đình Trung xem làng ta mở hội cá giải cơm thi…". Cốc! cốc! cốc! "Làng Đông bên tả, làng Trung bên hữu, Thịnh Mỹ trong sân, không được chen chân mà làng bắt phạt!". Sau tiếng mõ và tiếng trống đánh điệu "Trống tán" là các thuyền tập hợp đưa dần xuống ao.
Khi dân làng đã tập hợp đông đủ, tiếng mõ lại vang lên: Cốc! cốc! cốc! Đàn ông đứng trước, đàn bà đứng sau, chớ đẩy vào nhau mà làng bắt phạt! Cốc! cốc! cốc.
Nam nữ bắt đầu lần lượt xuống thuyền trong điệu "cò lả".
Nữ:
Thuyền rồng làng Tổ quê ta,
Nhìn gần càng đẹp, nhìn xa tuyệt vời.
Nam :
Người xem ở khắp nơi nơi,
Xem rồi ai cũng thấy đời thêm xuân.
Điều thú vị ở đây là các thuyền trang trí lộng lẫy sắp hàng bằng nhau trên mặt ao. Mỗi thuyền có một đôi nam thanh nữ tú, nữ mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, chân đi dép mo cau, đeo khăn bao bạc, tay xách nón ba tầm, cầm kiềng, niêu đi theo nhịp điệu câu hát; nam tay cầm cần câu, vai vác mái chèo, áo nâu, khăn buộc đầu, đi theo sau. Khi đã xuống thuyền, các đội làm lễ chào nhau, rồi cùng chúc làng, chúc mọi người "An khang thịnh vượng", trên bờ dân làng cũng chúc đáp lại "An khang thịnh vượng"!
Bắt đầu cuộc thi, chủ trò tuyên bố: Trình dân, trình làng, trình quan chủ, thuyền đã cập bến, dân đến đủ đầy, trai gái hăng say, thuyền xin xuất kích. Tiếng chiêng gióng giả vang lên một hồi ba tiếng, các thuyền nhẹ nhàng lướt đi. Người con trai cầm chèo phải vừa khéo léo cho thuyền đi nhanh kịp các thuyền bạn, vừa phải buông cần câu cá (mặc dầu câu chỉ là hình thức). Xuất phát từ nghề thủy tổ của làng là nuôi và đánh bắt cá, người con trai gắn liền với công việc của mình với sông nước, với con cá, con tôm. Cũng từ con thuyền, đôi mái chèo, cái cần câu mà tạo nên làng Kẻ Tổ - Quỳ Chử, sinh ra con cháu đông đúc, làm nên truyền thống văn hóa của làng. Còn cô gái, thể hiện sự giỏi giang, khéo léo trong việc tề gia nội trợ. Từ mạn thuyền nhỏ bé, sóng nước tròng trành, gió lùa củi ướt, chỗ ngồi chật hẹp, người con gái vững chí, dẻo tay, khéo léo nhóm lửa, bắc nồi, nấu cơm.
Chàng trai và cô gái mỗi người một việc nhưng phải có sự kết hợp hài hòa sao cho thuyền đi nhanh mà vẫn tạo thuận lợi cho cô gái nấu nướng, lửa cháy liên tục, nước nhanh sôi, cơm nhanh chín. Trong khi làm công việc của mình, hai người còn phải kết hợp đối đáp với các thuyền khác. Các làn điệu hát cũng phải thay đổi, lúc hát đối đáp, lúc ngâm thơ… Đây là phần thú vị, hấp dẫn nhất của cuộc thi. Sau đây là một vài câu hát trong các cuộc thi còn lưu truyền lại.
Bên nữ hát vỉa:
Cái thuyền be bé mà bẹ son vàng
Tayanh chèo lái, tay nàng nấu cơm
Bên nam đáp lại:
Anh còn son em cũng còn son
Sau ngày lễ hội làm con một nhà.
Bên nữ đáp lời:
Anh về thưa với mẹ cha
Miếng trầu nên nghĩa đôi ta truyền đời.
Các thuyền cứ chèo đi nhịp nhàng, người con gái trên thuyền vừa chăm lo củi lửa nấu cơm vừa hát:
Nước long lanh, thuyền anh chèo lái
Em gái má hồng ân ái bên nhau
Hỡi chàng là chàng ơi, em với chàng ta quyết giật giải cơm thi.
Chàng trai tiếp lời:
Nước trong xanh lượn quanh hồ cá,
Ta với mình nay đã kết đôi
Hỡi mình là mình ơi, ta với mình nay đã kết đôi mà kết đôi
Đến đây cô gái chuyển giọng, ngâm thơ:
Anh tài thì em cũng tài
Anh chắc chèo lái em hài lòng yêu
Cơm trắng thơm dẻo một niêu
Cá canh ngon miệng là điều em lo
Chàng trai nối tiếp:
Ca vui trong hội trong trò,
Nhớ nhau nhớ buổi hẹn hò hôm nay.
Em về thưa với mẹ thầy,
Để anh chung tấm lòng này với em.
Rồi cả chàng trai, cô gái cùng hát:
Tình rằng tình rằng trai gái đồng quê
Mái đầu vương màn cây lúa…
…Hội làng vui đón mừng xuân
Hội làng vui tưng bừng
Lời ca, câu hát cứ tiếp nối giữa các thuyền, trên bờ người xem cổ vũ, hưởng ứng hát theo sôi nổi. Người ta xem đôi nào khéo léo nhất, đôi nào hát hay nhất, chàng trai nào chèo thuyền giỏi nhất, cô gái nào ứng xử và nấu nướng nhanh nhẹn, khéo léo, hợp lí trong các tình huống trên thuyền để bình chọn…Trống chiêng giục giã rộn ràng, các chàng trai, cô gái trên các thuyền thuyền cũng không quên thay nhau hát hát đáp lễ:
Nữ:
Ai về đường rẽ san đôi
Ai về Quỳ Chử quê tôi thì về
Quỳ Chử có gốc đa đề
Có hàng dừa mát, có nghề canh nông.
Nam :
Nhiều cô con gái đương hồng
Tề gia đã giỏi tấm lòng thủy chung.
Nữ:
Ai chưa nhanh chóng về cùng
Lên xe em đợi trùng phùng vui duyên.
Nam (lẩy Kiều):
Từ xưa Quỳ Chử quê ta
Bồ Điền giao hữu nay đà bao niên
Từ đời tiên tổ tổ tiên
Nuôi quân Bà Triệu đã quen từng ngày…
Nữ:
Làng ta mở hội cơm thi
Bà con rủ chắc mà đi cho nhiều
Thuyền rồng buộc hai mái chèo
Một trai, một gái, một niêu, một kiềng
Có củi, có lửa, có đèn,
Nghe ba hồi trống tùng teng bắt đầu
Trai thì khoát mạnh mái chèo
Nữ thì nhóm lửa đưa niêu lên kiềng
Gió tuôn bao phủ đoàn thuyền
Lúc ẩn lúc hiện tựa tiên giáng trần.
Chèo, câu đã thấy khó khăn
Cá ngon cơm chín mới ăn giải đầu
Thời gian ai nấu được mau
Thế là giải thưởng công đầu cuộc thi.
Nam :
Bà con đứng ở bốn bề
Kẻ reo người giục còn gì vui hơn?
Chấm thi trống đánh thu quân
Đoàn thuyền rẽ sóng vào trong gần bờ...
Cuộc vui càng về cuối càng sôi động rộn ràng. Các thuyền cố gắng bứt lên phía trước, trên thuyền các cô gái nhanh chóng hoàn thành công việc của mình.
Sau một hồi trống dài báo hiệu cuộc thi kết thúc, các thuyền dù chưa xong cũng phải dừng lại, bày sản phẩm ra mâm. Trước khi chấm điểm, các thôn mang sản phẩm vào tế Thánh theo điệu trống rước, rồi quay lại đứng giữa và đồng xướng, đồng bái. Thắng thua không phải là điều quan trọng trong cuộc thi này, điều cốt yếu là sự giao lưu, được thể hiện tài khéo léo của những chàng trai tài gái sắc. Tuy chia ra các thôn song họ đều cùng một làng, tối lửa tắt đèn có nhau, có khi quan hệ là thông gia, bạn hữu, đồng nghiệp, đồng môn… Vì thế đến với cuộc thi là để góp vui, để cùng nhau tưởng nhớ đến nguồn gốc tổ tiên, thể hiện tài năng nghề nghiệp cũng như khát vọng cuộc sống an bình, hạnh phúc, đoàn kết, sum vầy. Chính vì vậy khán giả mới là ban giám khảo quan trọng nhất của hội thi.
Hội thi làng Quỳ Chử không diễn ra trên mặt đất như khá nhiều làng quê khác mà diễn ra trên mặt nước ao hồ, vừa đua thuyền, câu cá, nấu cơm. Trước hết, hội đua thuyền nấu cơm thi gắn với các phong tục liên quan đến nước, một nhân tố quan trọng của cư dân trồng lúa nước người Việt, gắn với nghề nghiệp nuôi cá, đánh bắt cá xa xưa của dân làng và cũng là sự tích hợp dấu ấn của những trò diễn tiêu biểu trong các lễ hội của làng như chèo chải, cá giải, cơm thi…, ngoài ra hội còn phản ánh tình cảm gắn bó với quê hương làng xóm, tưởng nhớ tới tổ tiên
Cá giải cơm thi được tổ chức hàng năm từ xa xưa, đến nay đã mai một đi nhiều, tuy nhiên những điều cốt lõi của cuộc thi vẫn được dân làng Quỳ Chử duy trì, gìn giữ. Đáng tiếc là phần thi thố tài năng hát đối đáp, giao lưu giữa các thuyền và giữa các đôi nam nữ ngày càng ít. Đó cũng là điều trăn trở của các bậc cao niên, của người dân làng Quỳ Chử. Bởi đây là phần thú vị nhất, ngoài những câu ca truyền thống, trong quá trình giao lưu, trai gái làng đã sáng tạo được nhiều câu hát đối đáp linh hoạt làm náo nức lòng người xem hội.
Cá giải cơm thi là một hội thi mang đậm bản sắc nghề nghiệp của một vùng quê. Ngày nay, trong nhịp sống hiện đại, mỗi khi xuân sang, hội cá giải cơm thi với tiếng trống, tiếng chiêng cùng tiếng loa phóng thanh rộn ràng lại lôi cuốn lòng người dân Kẻ Tổ, với nỗi niềm nhớ về cội nguồn và niềm khát khao hạnh phúc, đồng thời cũng là dịp để trai gái giao lưu, tìm hiểu, xây dựng tình đoàn kết nhân ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng làng xóm. Xin lấy câu hát của người con gái trong hội thi để khép lại bài viết:
Ai chưa!.. .nhanh chóng về cùng
Lên xe em đợi trùng phùng vui duyên.
___________________
1. Trọng Miễn, Văn hóa làng Quỳ Chử, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.
2. Tư liệu sưu tầm của sinh viên Khoa Văn, Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa, tháng 02-2004








