Trao đổi về chữ “kiện nhi” trong một câu kiều
Tác giả đã phát hiện được một câu chuyện của Trung Quốc đăng trên tạp chí Nam Phong do ông Nam Trạch dịch. Câu chuyện đơn giản, mô tả một nhân vật lưu manh hèn nhát, nhưng lại hay khoe khoang khoác lác có tên là Kiện Nhi. Tác giả bài viết cho rằng việc phát hiện ra nhân vật Kiện Nhi là một việc may mắn đối với mình để khẳng định cụ Nguyễn Du đã dùng điển tích này trong câu Kiều 1108: Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi. Tác giả bài viết bác bỏ cách giải thích từ kiện nhilà người khoẻ mạnh, người có sức khoẻ… của Lê Văn Hoè, Đào Duy Anh, Nguyễn Thạch Giang và cho là khiên cưỡng. Theo chúng tôi được biết thì không chỉ ba nhà nghiên cứu trên đây, mà nhiều nhà biên khảo khác như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Chiêm Vân Thị… cũng giải thích tương tự. Sở dĩ tác giả bài viết quả quyết như trên vì ông đã hiểu chữ Nhimột cách máy móc chỉ là đứa trẻ nên đã khẳng định kiện nhichỉ có nghĩa là đứa trẻ khoẻ mạnh, chứ không phải là người khoẻ mạnh hay người có sức khoẻđược (bđd). Xin lưu ý trong tiếng Hán chữ Nhi không phải chỉ có một nghĩa duy nhất là trẻ con, đứa trẻ, em bé. Trong những trường hợp cụ thể khi kết hợp với những từ khác như nam nhi, nữ nhithì không phải là bé trai, bé gáimà dùng để chỉ người đàn ông, người con traixét về mặt khí tiết, chí khí… (chí nam nhi, đấng nam nhi…) hoặc chỉ chung về phụ nữ, về đàn bà, con gái ( Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng. Kiều). Không hiểu sao tác giả lại dịch kiện nhilà nữ trẻ tuổi có sức khoẻđể đặt ra một câu nghi vấn làm tiêu đều cho bài viết của mình. Một lý do nữa mà tác giả nêu lên để bênh vực cho lập luận của mình là: không ai dùng chữ “dòng kiện nhi” theo nghĩa tương tự như “dòng nho gia”, “dòng võ tướng” (bđd) thì chúng tôi lại cho rằng cấu trúc này trong ngôn ngữ là rất bình thường, không có gì sai quy luật. Chữ kiện nhitrong tiếng Hán đã được dùng rộng rãi trong Cổ Nhạc phủ, trong Tam Quốc chí và một số nhà thơ nổi tiếng đời Đường cũng đã dùng từ này trong thơ ca của mình, Đỗ Phủ có câu: Kỳ thượng kiện nhi quy mạc lãn (Kiện nhi trên sông Kỳ đừng về chậm), Hàn Dũ có câu: Kiện nhi tranh khoa sát lưu hậu (chàng trai khoẻ mạnh tranh khoe giết lùi lại sau). Chúng tôi dẫn chứng thêm điều này để khẳng định cụm từ kiện nhixuất hiện từ rất sớm với ý nghĩa là người khoẻ manhvà đã được ghi nhận trong nhiều cuốn từ điển Trung Quốc, đặc biệt là cuốn Cổ Hán Ngữ đại từ điển (Thượng Hải từ thư xuất bản xã - 2000) có giải thích tỉ mỉ xuất xứ của từ này.
Như chúng ta đã biết, Nguyễn Du đã dựa vào cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân được sáng tác vào đời Gia Tĩnh triều Minh để viết thành Truyện Kiều bất hủ. Câu chuyện Kiện Nhi được Ngô Quốc Quýnh vừa phát hiện không biết được sáng tác vào thời gian nào, nhưng theo giới thiệu trong phần đầu câu chuyện thì nhân vật này mới sinh vào đời Gia Tĩnh nên không thể là điển tích cho cuốn tiểu thuyết cùng thời với nó và cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du được. Nguyễn Du đã diễn đạt đoạn Sở Khanh rủ kiều đi trốn bằng hai câu lục bát rất thanh thoát và cô đọng:
C1107 - 1108: Rằng: ta có ngựa truy phong
Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi
Xin đối chiếu với câu trong Thanh Tâm Tài Nhân. Sở Khanh nói: Ta có danh mã mỗi ngày chạy hàng ngàn dặm, lại có tên kiện nhi bồi ngựa, một đêm nó có thể chạy được 300 dặm(Ngộ hữu danh mã, nhật hành thiên lí, mã nô kiện nhi, vũ dũng quá nhân, nhất dạ tẩu tam bách lí), Nguyễn Du vẫn giữ nguyên cụm từ Kiện nhitrong câu thơ của mình. Đến đây ta có thể kết luận: Việc phát hiện câu chuyện Kiện Nhi của ông Ngô Quốc Quýnh chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên với chữ kiện nhitrong câu Kiều, nó chẳng liên quan gì đến chuyện điển cố, ta chớ nên vội vàng gán ghép. Tôi còn nhớ một trường hợp tương tự là có người trước đây đã phát hiện ra một nhạc công chơi giỏi đàn Hồ (Hồ Cầm) có tên là Ngải Như Trương và cũng đề nghị thay cho chữ một trươngtrong câu 32 của Truyện Kiều: Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm Ngải Trương.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du dùng rất nhiều điển cố nhưng không phải lắm lúc quá hiểm hócnhư tác giả bài viết nhận đinh, vì các điển tích trong Truyện Kiều đã được các nhà nghiên cứu chú giải một cách tường tận. Theo thiển ý của chúng tôi thì không phải trường hợp nào cũng phải tìm cho ra điển cố theo kiểu tầm chương trích cú. Trở lại hai câu Kiều trên đây chẳng có gì là khó hiểu và phải tìm cho được điển tích “ngựa Truy Phong” như tác giả hi vọng. Ta chỉ cần hiểu ngựa truy phong ở đây là ngựa chạy nhanh (đuổi kịp gió) là đủ. Tuy nhiên người sính điển cố cũng có thể tìm được câu giải đáp trong cuốn Cổ Hán ngữ đại từ điểnhoặc cuốn Quảng Sự loại: Tần Thuỷ Hoàng có 7 con ngựa tốt, trong đó có con hay nhất có tên gọi là truy phong.








