Tôi đã đi thăm nước Việt Nam tự do
Tôi là người Mỹ thứ nhất được qua thăm nước Việt Nam tự do. Tháng 3 năm nay (1953) tôi đã đi hàng ngàn cây số trong các vùng giải phóng của nước Cộng hoà dân chủ, do cụ Hồ Chí Minh, một bậc vĩ nhân, làm Chủ tịch.
Tôi phải đi lại khi bằng ô tô khi bằng xe đạp hoặc ngựa và nhiều khi phải đi bộ, điều đó cũng tỏ rõ được những khó khăn trong đời sống ở Việt Nam . Tất cả mọi sự đi lại thường về đêm. Ban ngày, những máy bay khu trục làm ở Mỹ, đã từ các căn cứ ở đồng bằng sông Hồng, bay đi bắn phá và oanh tạc các đường giao thông, các rừng rú bằng bom na – pan. Các đội phòng không của Việt Nam chưa có nhiều. Nông dân phải làm việc từ mờ sáng hoặc về đêm, vì phi công Pháp nhiều khi bắn vào trâu bò, và cả vào trẻ em, để mua vui.
Tất cả các cầu cống đều bị phá, chiếc ô tô của chúng tôi giống như con quái vật thời tiền sử vì cánh lá tre nứa ngụy trang đầy thân, đã luôn luôn phải lội qua suối và qua sông. Các cầu tạm thời, làm một cách thô sơ bằng các thân cây, đều không dùng được trong mùa mưa, kéo dài từ giữa tháng 5 đến tháng 9.
Chúng tôi đi xe đạp, từ các đỉnh núi cao trên nghìn mét xuống một thung lũng ẩm thấp; theo con đường thụt và bùn lầy. Do sự cố gắng phi thường cuối cùng chúng tôi tới một khu rừng. Tiếng ếch nhái vang động không trung. Hàng triệu ve sầu đáp lại. Ngựa của chúng tôi chuệch choạng trên những bờ ruộng nhỏ và thấp, hoặc lội bì bõm trong bùn. Các cành cây, bụi rậm dây leo, quấn quít rối loạn với nhau trông như rắn cuộn. Thỉnh thoảng một vài con khỉ ló ra trên các cây vả. Rừng sâu đầy kẻ thù nguy hiểm cho loài người: muỗi sốt rét.
Tôi không bao giờ quên cuộc gặp gỡ đầu tiên với những người dân Việt Nam . Hàng trăm nông dân đủ cả đàn ông đàn bà, mặc áo nâu rộng quần ngắn thẫm màu, nhộn nhịp chữa đường ở gần Nà Phạc, dưới ánh đuốc. Phần đông đi chân đất. Trong số này có nhiều người Thổ đội khăn đen. Nước đọng đầy ngập các hố bom rộng lớn. Mọi người lấy cuốc thuổng xắn nhỏ đất vàng nhợt, kéo cây đổ sang bên đường, tải đá trong các sọt bằng nứa… Và hò hát những điệu kỳ lạ, có âm vang của núi rừng lắp lại.
Đêm nào họ cũng làm việc như thế. Khi tôi qua gần họ, tự nhiên tôi cúi đầu như kẻ có tội… Quả vậy, không có một phương pháp tiến hành chiến tranh nào bỉ ổi hơn những cuộc ném bom, không có một điều nhục nhã nào hơn những vụ bắn phá đất nước Việt Nam do những máy bay làm ở Mỹ gây ra - nước Mỹ, một nước mà có lẽ một triệu người Việt Nam mới có một người đã thấy. Tại sao người Mỹ chúng ta lại có thể gửi máy bay tới một nước mà chúng ta không biết, để tàn sát một dân tộc không hề làm điều gì hại đến chúng ta.
Trước khi thăm các đơn vị quân đội Việt Nam, tôi được hân hạnh tiếp chuyện Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam , tại đại bản doanh của ông ở sâu trong rừng. Ông đã nói với tôi về các vấn đề và triển vọng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam . Ông giải thích cho tôi rõ, trên bản đồ, về diễn biến của tình hình quân sự. Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm nay 41 tuổi. Ông hơi gầy, mặc bộ đồ kaki giản dị. Ông nói tiếng Pháp rất thạo. Nụ cười lúc nào cũng như nở trên môi và trong khoé mắt ông (…).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy một đội quân gồm có nhiều sư đoàn tinh luyện, có đủ pháo binh nặng nhẹ, phần lớn là đại bác của Mỹ cung cấp hồi 1949 cho quân đội viễn chinh Pháp.
Ngoài những đơn vị quân đội chính quy tại các vùng tự do, ở Việt Nam còn có những căn cứ du kích tổ chức rất chu đáo, nằm rải rác khắp nơi trong đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và ở Đồng Tháp Mười. Dọc các đường giao thông, cuộc chiến đấu luôn luôn tiếp diễn. Quân đội Pháp bị bắt buộc phải chúi trong các vị trí phòng thủ và chỉ giám rời vị trí khi nào có lệnh đi khủng bố, càn quét. Trong những trận chiến đấu gay go ở đồng bằng cũng như ở rừng núi, Quân đội nhân dân Việt Nam lúc nào cũng được nhân dân ủng hộ; hàng vạn dân công ngày đêm vận chuyển lương thực và đạn dược đến tận tiền tuyến. Cũng vì vậy mà những cuộc ném bom dữ dội phá đường cũng không ngăn trở được nhiều việc tiếp tế cho Quân đội nhân dân.
Tôi đã đi thăm một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 308, gồm 500 thanh niên khoẻ mạnh. Hầu hết các thanh niên này đều là nông dân. Nhiều người đã chiến đấu từ năm 1947, và các chính trị viên thì chiến đấu từ năm 1941. Tuy vậy tuổi trung bình ở đơn vị đó không quá 22 tuổi. Họ là những thanh niên vạm vỡ, mặt sạm nắng, quân phục của họ màu xanh nhạt, nổi bật bên cạnh bộ tóc đen như hạt huyền. Mùa thu năm ngoái, tiểu đoàn này đã bắt được rất nhiều tù binh, tính đổ đồng cứ mỗi chiến sĩ bắt được một tù binh. Chiến lợi phẩm thu được đã giúp cho tiểu đoàn trang bị lại vũ khí. Mọi người bây giờ đã có đủ tiểu liên Mỹ và badôca Pháp.
Tôi nhớ ba điều ghi nhớ của tiểu đoàn: “Không xâm phạm đến cái kim sợi chỉ của dân; Gian khổ thiếu thốn đến đâu cũng không phàn nàn; Giữ vững thế chủ động và khắc phục mọi khó khăn trong mọi hoàn cảnh”.
Chúng tôi đã ở những căn lều của nông dân, trong những ngày oi ả, dài dằng dặc, lúc nào cũng nghe thấy tiếng máy bay địch. Chúng tôi đã ngủ trên ghế gỗ, cạnh bàn thờ tổ tiên. Trên bàn thờ đó, bên cạnh các mâm bồng khay sơn, dùng để đựng hoa quả và thức ăn cúng tổ tiên trong những dịp giỗ tết, bao giờ cũng có ảnh cụ Hồ Chí Minh. Ở đây, người ta gọi Cụ là Hồ Chủ tịch (…).
Nước Cộng hoà dân chủ Việt Nam đã dần dần chấn chỉnh lại tình thế, tiến từng bước nhưng tiến chắc chắn. Công việc được chú ý đầu tiên là sản xuất thực phẩm và phát triển thủ công, kỹ nghệ. Trong giai đoạn này, nước Việt nam tự do chưa triệt để thi hành cải cách ruộng đất, chỉ mới giảm tô 25%, giảm tức và huỷ bỏ các thứ tô phụ. Nông dân được học cách khẩn hoang và phương pháp canh tác mới. Ruộng đất của thực dân Pháp và đại địa chủ phản động bị tịch thu để chia cho dân cày nghèo. Công điền, công thổ cũng đem chia cho nông dân. Tính ra 25 vạn hécta đất đã chia cho 42 vạn nông dân, điều đó chứng tỏ một cách hùng hồn uy quyền và sức mạnh của chính thể cộng hoà. Việc phổ biến và khuyến khích áp dụng các phương pháp canh tác mới được làm tích cực. Nông dân dùng phân bón ngày một nhiều. Họ được cung cấp nhiều nông cụ làm bằng mảnh bom. Phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm được hết sức khuyến khích.
![]() |
| Dân công thồ lương thực bằng xe đạp ra tiền tuyến. |
Hết đánh du kích chống càn, lại cày bừa sản xuất rồi lại đánh du kích chống càn. Chính phủ Hồ Chí Minh đang trải qua những cuộc thử thách thật gay go.
Tất cả những người kháng chiến hiện nay đều tập họp trong một mặt trận dân tộc thống nhất: Mặt trận Liên Việt. Tháng 3 – 1951, Mặt trận Việt Minh, tức “Việt Nam độc lập đồng minh” thành lập năm 1941 đã hoà vào Mặt trận Liên Việt. Mặt trận Liên Việt ngày nay bao gồm: Đảng Lao động, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động (có 30 vạn đoàn viên), Hội Nông dân cứu quốc và các đoàn thể thanh niên, phụ nữ. Ngoài ra, trong Mặt trận Liên Việt còn có Hội Phật giáo cứu quốc, những người công giáo kháng chiến và các thân sĩ không đảng phái đủ các khuynh hướng. Ở Việt Nam , có 2 triệu giáo dân. Đó là giáo hội đông nhất trong các nước ở Á châu. Vậy mà Jean Dooley, người Mỹ, khâm mạng Giáo hoàng ở Việt Nam, cũng không xúi giục nổi giáo dân chống lại kháng chiến.
Tôi đã biết được những điều trên, do cụ Tôn Đức Thắng, một lão thành 73 tuổi (1) hiện làm Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc kể lại. Cụ là hiện thân của cả một giai đoạn lịch sử Việt Nam . Trước kia cụ đã làm thuỷ thủ trong ngành hàng hải thương thuyền Pháp. Cụ là người đã kéo ngọn cờ đỏ cách mạng trên chiếc tuần dương hạm Waldeck Rousseau của Pháp ở Hắc Hải, năm 1919, cụ đã ở tù 18 năm rưỡi trên đảo Côn Lôn, cách bờ bể phía nam nước Việt nam 65 hải lý. Trước cuộc Cách mạng tháng 8 – 1945, 5000 nhà ái quốc Việt nam bị giam giữ trên đảo đó, sau chỉ còn 1.500 người sống sót.
Đảng Lao động là lực lượng chính của Mặt trận Liên Việt, ông Trường Chinh, vị Tổng Bí thư cương quyết của Đảng, đã cho tôi biết là Đảng Lao động hiện có 70 vạn đảng viên và là bộ xương sống của kháng chiến. Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam, nhưng bảo nước Việt Nam là một nước “cộng sản” thì là một điều lầm lớn. Bước đường hiện thời của nước Việt Nam còn xa mới tới chủ nghĩa cộng sản; và ngay cả tới chủ nghĩa xã hội cũng còn xa. Trong sự lãnh đạo, Đảng chú ý tạo điều kiện hết sức dễ dàng cho những người ngoài đảng phát biểu ý kiến của mình và góp sức vào sự nghiệp chung.
Trong Chính phủ Việt Nam chỉ có các Bộ Quốc phòng, Tài chính, Lao động là do các đảng viên Đảng Lao động giữ. Các người không đảng phái và các Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội giữ những bộ rất quan trọng như Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Canh nông. Tôi đã nói chuyện lâu với ông Dương Đức Hiền, lãnh tụ Đảng Dân chủ, và ông Phan Tử Nghĩa, lãnh đạo Đảng Xã hội.
Mặt trận Liên Việt là kết quả đoàn kết được trong hàng ngũ kháng chiến những người công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức cùng những nhà tư sản dân tộc và cả những địa chủ hết lòng yêu nước.
Tôi đã đi thăm một trường học ở giữa rừng, có 300 nam nữ học viên theo học trong 3 tháng. Đến năm 1953, sau khi tan lớp họ sẽ tham dự cuộc cải cách ruộng đất do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra. Trong số những học viên này nhiều người đã từ đồng bằng sông Hồng tới. Tôi có nói chuyện với một học viên đã từ một căn cứ du kích vùng Sài Gòn đi 4 tháng trời mới tới trường học. Ở trường, tôi gặp đủ các hạng người. Có các nhà văn nói chuyện với tôi về Aragon và Huard Fast. Có các hoạ sĩ trước đó ít ngày đã từng đi triển lãm tranh của mình ở nông thôn. Có các bác sĩ đã từng nghiên cứu cách sử dụng thuốc streptomicin và cách chống vũ khí vi trùng. Những người này cùng học một lớp với các công nhân, nông dân.
Ở trường này tôi được biết nhiều điều rất đáng khâm phục: 13 triệu người, trước kia hoàn toàn mù chữ, nay biết đọc, biết viết; 50 vạn trẻ em hiện đang theo học trong các trường của Chính phủ kháng chiến; có nhiều đội văn công lưu động; và trong một cuộc thi văn nghệ tổ chức năm 1952, đã có 700 vở kịch, bài thơ, truyện dài, truyện ngắn gửi tới dự thi.
Ông Xuân Thủy, chủ bút báo Cứu Quốc, cơ quan của Mặt trận Liên Việt cho tôi biết là báo này xuất bản ở ba nơi. Tông số báo phát hành là 9 vạn tờ. Có 5 máy in làm việc ở trong rừng. Mọi chi nhánh đều có thông tín riêng. Báo phát hành bằng ô tô, xe đạp, người đi bộ. Tin tức thế giới thì nhận bằng vô tuyến điện. Báo Cứu Quốccũng như tất cả các tạp chí, truyện và sách báo khác, đều in trên thư giấy màu vàng, làm bằng nứa.
Cụ Võ Thị Hằng, một bà cụ 62 tuổi, nhỏ bé, da mặt nhăn nheo đã kể cho tôi nghe chuyện con gái cụ, nữ anh hùng Bùi Thị Cúc, bị bọn sát nhân đế quốc tra tấn đến chết. Cụ Võ Thị Hằng có 8 con, 3 người đã tử trận. Năm 1950 cô Bùi Thị Cúc, lúc đó 20 tuổi, có chân trong một tổ chức chính quyền, đã hăng hái tham gia việc giải phóng quê quán đang bị tên bán nước Nhì áp bức. Cô bị bắt và bọn thực dân Pháp tra tấn dã man để bắt cô khai tên người cùng hoạt động. Chúng trói cô vào cọc, cắt hai bàn tay, xẻo vú, chặt chân. Câu trả lời độc nhất của cô là câu hô lớn: “Hồ Chủ tịch muôn năm!” (…).
Tôi được hân hạnh ở cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hai tối. Đến 19 – 5 này, Cụ sẽ đúng 63 tuổi. Cụ dong dỏng cao, tóc hoa râm, trán rộng, mắt sắc, râu để theo kiểu Á Đông. Cụ mặc quần áo vải như mọi người nông dân. Lần đầu tiên gặp cụ, tôi thấy Cụ thoăt thoắt trên chiếc thang dựng đứng của căn nhà sàn bước xuống, nhảy lên ngựa và biến vào trong đêm tối.
Cụ Hồ Chí Minh được nhân dân rất quý mến. Tên Cụ có nghĩa là “sáng suốt”. Cụ là một nhà chính trị xuất chúng, một nhà chiến lược cách mạng, một người yêu nước nồng nàn. Cụ đã nêu gương chính nghĩa và đạo đức cho thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Hồi còn trẻ, Cụ đã qua thăm hầu hết các nước trên thế giới. Cụ biết năm thứ tiếng và nói tiếng Anh rất thạo. Nói chuyện với Cụ, thấy ngay là trước kia Cụ đã nghiên cứu thật sâu lịch sử nước Mỹ. Cụ đã nói với tôi về truyền thống của Jefferson, và Lincoln (2) và hỏi tôi: “Nếu các bậc tiền bối nhân dân Mỹ biết rằng máy bay Mỹ hàng ngày ném xuống một dân tộc đang đấu tranh cho độc lập, không biết các vị đó nói thế nào?”
Cụ Hồ Chí Minh có mảnh vườn riêng tự tay trồng trọt lấy. Cụ tự tay đánh máy lấy các bài diễn văn và bài báo. Văn Cụ giản dị nên thơ, người nông dân nào đọc cũng hiểu. Trong các làng quê hay bên đống lửa trại, nhân dân và bộ đội Việt Nam truyền cho nhau nghe những bài thơ nói về công đức của Hồ Chủ tịch.
Cụ nói với tôi: “Chúng tôi chiến đấu 5 năm, 10 năm nếu cần, cuối cùng chúng tôi nhất định sẽ thắng”. Tôi hỏi “theo ý Cụ thì khi nào thực dân Pháp sẽ xin đình chiến”. Cụ trả lời cương quyết: “Khi nào chúng bị đánh bại”.
Các nhà cầm quyền Mỹ trông chờ rất nhiều ở Đông Dương. Họ bắt nước Pháp phải tiếp tục chiến tranh và gửi thêm quân sang Việt Nam . Họ muốn nước Pháp phải nhượng nhiều chỗ ở Đông Dương cho bọn độc quyền Mỹ và bọn tư bản Nhật, để cho bọn này có chỗ buôn bán, khỏi phải buôn bán với nước CHND Trung Hoa. Trong con mắt Bộ Chiến tranh và Bộ Ngoại giao Mỹ thì nước Việt Nam là một căn cứ quân sự tốt nếu Mỹ gây chiến với Trung Quốc. Các nhà cầm quyền Mỹ vẫn chưa chịu bỏ ảo mộng tấn công Trung Quốc. Mặt khác họ rất lo ngại nhân dân Pháp sẽ bắt nhà cầm quyền Pháp phải đình chỉ cuộc chiến tranh hao mòn tổn hại ở Đông Dương và phải đàm phán với Cụ Hồ Chí Minh. Bọn tư bản độc quyền Mỹ còn lo ngại là nếu có hoà bình ở Đông Nam Á, chúng sẽ không còn cớ gì mà chen chân vào, vì thế phương diện pháp lý cũng như về lịch sử, chúng chẳng có quyền gì ở Đông Nam Á. Vì vậy chúng đang ra sức dậm doạ để giành lấy quyền điều khiển chiến tranh ở Đông Dương.
Nhưng nước Mỹ, dù một mình hay có các nước tay sai giúp sức, cũng sẽ không làm nổi cái việc mà nước Pháp đã không làm nổi bằng vũ khí và đô la Mỹ. Cuộc chiến tranh Đông Dương làm tốn kém cho nước Pháp 2.000 triệu đô la mỗi năm, tức là từ 35 đến 40% ngân quỹ quân sự của Pháp. Nước Pháp đã thiệt hại trong cuộc chiến tranh này 25 vạn người, trong đó có cả đội quân lê dương, một thứ “quân đội Âu châu” gồm đủ cặn bã của 27 nước. ¼ tổng số sĩ quan và 42% tổng số hạ sĩ quan của quân đội Pháp bị giam chân ở Việt Nam . Mỹ cung cấp đại bác và máy bay cho Pháp, có thể giúp Pháp kéo dài cuộc chiến tranh, nhưng không thể giải quyết cho Pháp vấn đề căn bản là vấn đề quân số. Quân đội bù nhìn Bảo Đại có thể tăng lên 25 vạn người và giao cho võ quan Mỹ chỉ huy, nhưng thế cũng không tránh khỏi số phận của Tưởng Giới Thạch. Quân đội bù nhìn sẽ chạy sang hàng ngũ quân đội của Cụ Hồ Chí Minh, đem theo cả vũ khí và quân trang. Còn như gửi quân Mỹ sang đánh nhau ở rừng núi Việt Nam, ngay dù trong trường hợp các người cha, nười mẹ Mỹ đang mỏi mắt trông chờ con em ở Triều Tiên về, cũng đồng ý, thì kết quả sẽ ra sao? Mỹ cũng sẽ thất bại thảm hại như ở Triều Tiên mà thôi.
Kết quả cuộc chiến tranh ở Việt Nam do nhiều yếu tố căn bản quyết định. Lâu đài mục nát của phong kiến và đế quốc đang vỡ lở, muốn cứu vãn bằng vũ khí cũng không thể được. Phải sửa đổi lại tình trạng nông nghiệp, vì nhân dân Việt Nam nhất định không chịu chết đói nữa để duy trì chế độ tư hữu ruộng đất hiện thời. Nhân dân Việt Nam không muốn tài nguyên của họ bị các công ty ngoại quốc ăn cướp như trước nữa, các công ty này chỉ biết đục khoét, thu thật nhiều lãi, mà không hề làm lợi gì cho Việt Nam. Nhân dân Việt Nam muốn mở mang kinh tế, nhân dân Việt Nam đòi hỏi phải thiết lập nền dân chủ đề thay cho chế độ chính trị “dùi cui” mà bọn thực dân muốn ép họ phải chịu. Trải qua mấy thế hệ đau khổ vì những cuộc chiến tranh cướp phá của bọn đế quốc gây ra, ngày nay nhân dân Việt Nam muốn hưởng hoà bình. Và để đi tới hoà bình họ sẽ cương quyết chiến đấu giành cho được độc lập hoàn toàn (…).
Bí quyết thành công của Cụ Hồ Chí Minh là ngay trong lúc chiến tranh, hàng triệu nông dân Việt Nam đã được hưởng những quyền lợi do chế độ ruộng đất khác hẳn trước mang lại. Trong vùng tự do, việc sản xuất lương thực ngày một tăng, đời sống nhân dân ngày một cải thiện, thủ công nghiệp ngày một phát triển. Chính quyền thực sự ở tay nhân dân. Việc giáo dục thế hệ thanh niên dựa vào một lý tưởng mới. Từ mấy năm nay, nhân dân ở nhiều vùng rộng lớn đã sống trong cảnh độc lập thật sự. Nhân dân nước Việt nam tự do đều biết rằng họ có nhiều bạn tốt, và sau này khi kháng chiến thành công, họ có thể kiến thiết lại quốc gia.
--------
1. Cụ Tôn sinh năm 1888, lúc đó chỉ 65 tuổi.
2. Hai người đã đấu tranh cho nền độc lập của nước Mỹ.









