Tính xác thực của lịch Việt Nam hiện hành
Tri thức về Múi Giờ (Fuseaux horaires), giờ Quốc tế TU (Temps Universel), Giờ Địa phương (Temps Local):
Múi giờ: Thiên văn niên báo(Annuaire Astronomique) của Pháp xuất bản năm 1679 (sau này được Cục Kinh độ Paris- Bureau des Longitudes, Parischo in lại) người ta chia Địa cầu ra làm 360 kinh tuyến, dự trù lấy Paris làm kinh tuyến gốc. Nhưng đến năm 1884, hội Thiên văn học Quốc tế họp tại Mỹ đồng ý lấy kinh tuyến Greenwich làm kinh tuyến gốc (kinh tuyến 0 0). Cứ 15 kinh tuyến liên tiếp hợp thành 1 múi giờ. Mỗi múi giờ xích đạo (Equateur) cách nhau 1.665 km#899 Hải lý (mỗi hải lý = 1.852 m). Toàn địa cầu gồm 24 múi giờ. Nước Việt Nam nằm gọn trong múi giờ thứ 7 của độ kinh đông (1).
![]() |
Theo qui ước quốc tế:
- Ai đi từ Tây sang Đông qua đường Đổi Ngày thì đồng hồ phải vặn xuống một ngày (không đổi giờ).
- Ngược lại, đi từ Đông sang Tây, qua đường Đổi Ngày, đồng hồ phải lấy lên một ngày (2).
Giờ Quốc tế:Người ta ấn định gốc giờ Quốc tế tại Greenwich là 0 giờ. Từ nơi này đi về Đông, qua mỗi múi giờ, đồng hồ vặn lên một giờ, từ nơi này đi về Tây qua mỗi múi giờ, đồng hồ lấy xuống một giờ.
Từ các qui ước trên đi đến kết quả: Nếu Greenwich lúc 1 giờ thì: New Delhi 6 giờ, Singapore, Sài Gòn, Hà Nội là 8 giờ, Manila, Thượng Hải, Bắc Kinh là 9 giờ; Nhật Bản là 11 giờ…
Cần chú ý thêm, giờ Quốc tế TU (Temps Universel) khác với giờ GMT (Greenwich Mean Tiem) dùng để làm toán trong thiên văn, ví dụ cách tính giờ khởi tiết, người ta dùng các dữ liệu ngày Julius (Jd)… Giờ GMT vẫn lấy gốc Greenwich , nhưng ngày bắt đầu từ 12 giờ trưa. Một ngày theo giờ GMT được ấn định từ 12 giờ hôm nay đến 12 giờ trưa hôm sau.
Ví dụ 1 (theo dõi bản đồ): Khi giờ TU chỉ 16 giờ (Thứ Hai, ngày 3, tháng 5, chẳng hạn) thì lúc đó nước ta là 23 giờ, ở Bắc Kinh là 0 giờ thứ Ba ngày 4 tháng 5 đến tận kinh tuyến 180 0vẫn thứ Ba ngày 4 tháng 5; nhưng sang bên kia kinh tuyến 180 0thì lại là thứ Hai ngày 3 tháng 5.
Ví dụ 2: Đồng hồ Greenwich chỉ 10 giờ 23 phút thì lúc đó ở Berlin, Rome là 11 giờ 23 phút; New Delhi là 15 giờ 23 phút; Hà Nội là 17 giờ 23 phút; Thượng Hải, Bắc Kinh là 18 giờ 23 phút; Đông Kinh là 19 giờ 23 phút; Melbourne, Sydney là 20 giờ 23 phút… nên ta có thể nói: Kim phút của mọi đồng hồ trên thế giớ cùng chỉ vào một số giống nhau, còn kim giờ chỉ vào giờ địa phương khác nhau.
Giờ Quốc tế dùng để ghi những sự kiện quan trọng trên địa cầu.
Sự liên hệ giữa Giờ Sao (Heure Sidérale, Temps Sidéral), Sự qua kinh tuyến (Culmination) của một ngôi sao và giờ địa phương (Heure Locale):
Điểm Xuân Phân:
i) Trong sự chuyển đổng biểu kiến (Mouvement appparent). Mặt trời đã vẽ trên Thiên cầu (Sphère Céleste) một đường Hoàng đạo (Ecliptique).
ii) Một dãi nằm hai bên rộng khoảng 8 0(nhìn từ Địa cầu) mỗi bên, chạy suốt theo Hoàng dạo gọi là Hoàng Đới (Zodiaque).
iii) Chiếu đường Xích đạo của Điạ cầu (Equateur Terrestre) lên Thiên cầu, nó chính là Xích đạo Trời (Equateur Céleste).
iv) Hoàng đạo và xích đạo Trời cắt nhau tại 2 điểmgvàg’. Hai điểm này đối xứng nhau qua tâm Thiên cầu.gvàg’ theo định nghĩa nó là điểm Xuân Phân (Point Vernal, hoặc Equinoxe de Printemps) và Thu Phân (Equinoxe d’Automne). Tất nhiêngvàg’ là điểm vô hình, không có thật trong bầu trời, nhưng nó đóng một vai trò quan trọng trong việc tính toán, và người ta đã tính nó một cách chính xác (3).
v) Qua một vòng quay trên Hoàng đạo mỗi năm (365, 2.422 ngày Địa cầu)gvượt qua vị trí năm trước của nó 1 cung 50’’2 (tức là hơn 71 năm Địa cầugmới lùi lại 1 0. Vì vậy, mà vẫn được coi là điểm cố định).
Giờ Sao:
![]() |
Nhóm chữ “ngang qua bầu trời” e không chính xác, mà phải gọi là “qua thiên đỉnh” (Zénith). Bởi vì ngôi sao ấy ở Thiên đỉnh chiếu thẳng xuống Địa cầu đích vào kinh tuyến địa phương (Méredien Local), còn gọi là Kinh Tuyến Trên (Méridien Supérieur).
Còn ông Bình thì nói: “Cũng giống như trường hợp Giờ Mặt trời, nhưng đối tượng tham chiếu ở đây là một ngôi sao. Ngày Sao là khoảng thời gian hai lần liên tiếp đi qua kinh tuyếntại nơi quan sát”.
![]() |
Trong quyển COSMOGRAPHIE của ba tác giả F. Brachet, J. Dumarqué và Couderc (Couderc là nhà Thiên văn của Pháp) định nghĩa giờ sao như sau:
i)g(điểm Xuân Phân vô hình) được coi là một Ngôi Sao cố định, tại một nơi cho trước và một thời điểm cho trước, người ta gọi Giờ Sao chính là góc giờ (Angle Horaire) của điểmg’ (5).
Khigvượt trên Hoàng Đạo, T biến thiên từ 0 giờ đến 24 giờ. Vàgđược đo theo chiều LÙI (sens rétrogrande).
ii) Đồng hồ Sao (Horloge Sidérale): Đó là một đồng hồ chỉ Giờ Sao tại một nơi đã cho trước. Đồng hồ này chỉ 0 giờ 0 phút 0 giây ở MỖI NƠI khi 3đi ngang QUA KINH TUYẾN của nơi đó. Mặt số của đồng hồ vẫn là mặt số của đồng hồ Greenwich (theo Cosmographie,trang 33).
iii) Ngày Sao (Jour Sidérale): Đó là khoảng thời giangvượt qua cùng một kinh tuyến giữa hai lần liên tiếp. Một ngày Sao có 24 Giờ Sao; một Giờ Sao có 60 phút Sao; một phút Sao có 60 giây Sao. Ngày Sao ngắn hơn Ngày Mặt Trời 3ph 56 giây.
Áp dụng sự vượt qua kinh tuyến của một Ngôi Sao để chia Giờ Sao trên Địa Cầu:
Gọi K là điểm bất kỳ trên Địa cầu. Tại thời điểm màg(tức là điểm Xuân Phân) vượt qua Kinh Tuyến nơi đó, luôn luôn là 0 giờ 0 phút 0 giây. Theo hình vẽ,gvượt qua bao nhiêu giờ thì cách K bấy nhiêu giờ. Do vậy, mà nơi nàogđi qua (tức là sự ngang qua kinh tuyến địa phương) nơi đó đồng hồ Sao chỉ 0 giờ 0 phút 0 giây. Vì vậy mà người ta chia được mặt Địa cầu ra làm 24 giờ Sao. Ứng dụng cách chia này người ta chia được kinh độ Địa cầu.
Kết quả: - Lúc 0 giờ ứng với 0 0.
- Lúc 24 giờ ứng với 360 0.
- 1 giờ ứng với 15 0.
- 6 giờ ứng với 90 0.
- 12 giờ ứng với 180 0.
Cách chia này tương đương với cách dùng giờ để định phương hướng.
Kết luận:
Từ những kết quả thực tế của một Ngôi Sao qua kinh tuyến, ta suy ra:
- Mặt trời là một Ngôi Sao cố định nên Mặt trời vẫn ngang qua kinh tuyến như điểm Xuân Phâng. Thực tế ta thấy rằng, khi Mặt trời vượt qua kinh tuyến bất kỳ địa phương nào, đồng hồ địa phương đó vẫn chỉ đúng 12 giờ trưa, và qua đối kinh tuyến (Anti - Méridien) là 0 giờ.
- Vìglà Điểm Xuân Phân, nên ta suy cho các điểm khởi tiết khác: Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông, Đông Chí, Hạ Chí… Tiểu Tuyết, Đại Hàn… Điểm khởi Sóc, cũng đều có một đặc điểm chung: Khi qua Kinh Tuyến, các điểm khởi tiết ấy vẫn mang giờ gốc.
Ví dụ: Ngày khởi tiết lập xuân năm Đinh Hợi 2007 tại kinh tuyến Greenwich đồng hồ chỉ 19 giờ 19 phút. Khởi tiết ấy vượt đến kinh tuyến 105 0, thì đồng hồ xứ này (có thể là Hà Nội) vẫn chỉ là 19 giờ 19 phút. Nếu ai lấy 19 giờ 19 phút cộng với 7 giờ (Múi giờ thứ 7) là SAI.
- Điểm Sóc (Điểm không Trăng) là điểm Giao Hội giữa Mặt Trời, Mặt Trăng và Quả Đất, nên điểm khởi Sóc cũng có đặc tính như Điểm Khởi Tiếtgkhi qua kinh tuyến.
- Qui định chung của Hiệp Hội Thiên Văn Quốc Tế, khi tính giờ khởi tiết hay khởi Sóc, người ta lấy những dữ liệu của Greenwich để tính. Nếu đáp số ở Greenwich tính được là T, thì điểm khởi Sóc của kinh tuyến 105 0cũng là T, ở kinh tuyến 120 0cũng là T (6).
Ví dụ: Giờ khởi Sóc của Giao thừa năm Đinh Hợi 2007 ngày 18 tháng 2, tại Greenwich là 0 giờ 24 phút, thì ở Trung Quốc giờ khởi Sóc cũng 0 giờ 24 phút, và ở Việt Nam cũng 0 giờ 24 phút (nhấn mạnh là giờ Việt Nam). Ai lấy giờ Trung Quốc trừ đi 1 giờ để ra giờ Việt Nam là KHÔNG ĐÚNG! Vì đó chính là sự đi qua kinh tuyến của Ngôi sao góc (hoặc lấy giờ TU + 7 cũng SAI).
Tết Đinh Hợi là cái Tết thứ hai nước ta ăn tết sớm hơn Trung Quốc 1 ngày! Hai động tử đi cùng một tốc độ, vậy mà kẻ đi sau lại đến đích trước!
Nếu những nhà làm lịch ở nước ta không kịp thời chấn chỉnh lại thì ta vẫn còn gặp những cái Tết, những tháng thiếu phi Thiên Văn dài dài!
(1) Trong Đại Nam Hội điển sự lệ cho biết, vua Minh Mệnh (1820 - 1840) đã tính được toạ độ kinh thành Huế: 105 độ đông và 16 0, 34 độ Bắc.
(2) Trong Vòng quanh Thế giới trong 80 ngày của J. Verne, lão P. Foog khởi hành từ Luân Đôn, và về lại nơi này vào ngày 21 - 12 - 1872. Tức lão quên vặn đồng hồ tại Đường Đổi ngày. Sự thực là lão đã đi hết 81 ngày!
(3) Tại Ngày Xuân Phân và Thu Phân ngày và đêm dài bằng nhau. Sau Xuân Phân 1 ngày, mỗi ngày dài hơn mỗi đêm là 1 phút 30 giây. Sau khi Thu Phân, mỗi ngày ngắn hơn đêm là 1 phút 30 giây.
(4) Heure Sidérale, Tự Điển Pháp - Việt, của Đào Đăng Vỹ dịch là “Giờ Vũ Trụ”, người Trung Quốc gọi là “Hằng Tinh Thời”. Ông Huỳnh Ngọc Chiến dịch từ Trung Quốc ra “Giờ Hằng Tinh”. Các sách Thiên văn Việt Nam ngày nay gọi là “Giờ Sao”.
(5) Điểm Xuân Phân 3, các nhà thiên văn cổ Hy Lạp và Ai Cập đã thấy nó ở trong chòm sao Bạch Dương (Bélier - Ký hiệu g) nên họ dùng chữ 3(Gamma) giống như ký hiệu để ghi điểm Xuân Phân.
(6) Trong HỆ THỐNG CÔ LẬP (Système Isolé) của Địa Cầu trên, đồng hồ các địa phương, cây kim phút chỉ một số như nhau, còn cây kim giờ thì chỉ số khác nhau tuỳ theo Múi giờ. Còn trong Hệ thống Nhật - Địa cầu cả hai kim giờ và phút của mỗi địa phương đều chỉ số giống nhau khi có một tiết khí hay một Ngôi sao qua kinh tuyến địa phương đó.
Nguồn: Xưa & Nay, số 286, 6 - 2007, tr 9











