Tính kế thừa tất yếu trong hiện đại hoá nền đông y
1. Năng lượng tiên thiên - cơ sở của sự sống
Vũ trụ hình thành từ khí vô hình sau vụ nổ Bigbang, năng lượng của các tiểu phần (các hạt vi mô) giảm xuống, bởi năng lượng đó chuyển hoá thành khoảng không gian rộng lớn hơn.
Khí vô hình giảm thiểu năng lượng tụ lại thành vật hữu hình (khí tụ hình sinh).
Quy luật của tạo hoá là đi từ không (vô hình) đến có (hữu hình), từ tiên thiên vô hình đến hậu hữu hình, từ dương vô hình mang nhiều năng lượng đến âm hữu hình mang ít năng lượng. Tức là từ vô cực sang thái cực, từ thái cực sinh lưỡng nghi. Trong “chu dịch huyền giải”, học giả Thu Giang đã chỉ rõ: “âm dương chỉ thị nhất khí, âm khí lưu hành tức vị dương, dương khí ngưng tụ tức vị âm”.
Nội kinh có câu “dương sinh - âm sát” vì dương mang nhiều năng lượng - chủ động, âm mang ít năng lượng - chủ tĩnh. Phạm mọi sự sống, sự hoạt động có được trong vũ trụ là nhờ có năng lượng.
Khi một vật hữu hình (âm) được hấp thụ nhiều năng lượng sẽ tan ra thành khí vô hình (dương). Ngược lại khi vật đó giảm thiểu năng lượng thì tụ lại thành vật hữu hình (âm) ta nhìn thấy được - thường quen gọi là “có”. Ví như nước được cấp nhiều năng lượng thì bốc lên thành mây mù, nóng hơn nữa thành khí vô hình ta không nhìn thấy được. Ngược lại khi nước gặp lanh, năng lượng giảm xuống tạo thành mây mù, hoá thành nước mưa, lạnh nữa tạo thành băng ta nhìn thấy được. Mọi vật thể hữu hình hoặc vô hình đều tuân thủ theo quy luật đó.
Nguồn vận động và nguồn sống đầu tiên của vũ trụ, muôn vật đều dựa trên cơ sở của năng lượng siêu nhiên tự có mà cụ Lão Tử gọi là “ĐẠO”.
Năng lượng vụ trũ siêu nhiên đó, mà trực tiếp là ánh “thái dương”, là yếu tố đầu tiên nuôi sống muôn sinh vật và con người trên quả đất. Sinh vật và con người thu năng lượng đó qua khí khổng và các huyệt đạo để sinh trưởng và phát triển.
Thiền định, khí công, ioga là chủ động thu năng lượng vũ trụ - năng lượng tiên thiên - nạp vào đan điền (khí hải), trữ ở mệnh môn để điều tiết thu phát cho quá trình sống. Năng lượng tiên thiên đó tạo ra sức sống vĩnh hằng mãnh liệt nhất trong sạch nhất, khác hẳn với năng lượng hậu thiên (khí đất) gồm oxy, muối, nước, các chất hữu cơ từ thực vật và động vật được hấp thu vào phế và tỳ vị hậu thiên. Loại năng lượng hậu thiên này thô hơn, khi chuyển hoá sinh ra các khí độc và chất thải làm ô nhiễm nội môi của chúng ta. Vậy nên những người thiền định, luyện công chỉ ăn chay, hoặc mỗi ngày một bữa, thậm chí nhịn ăn một số ngày mà vẫn khoẻ mạnh và minh mẫn.
Để hiểu rõ điều đó, chúng ta phải tìm về cội nguồn của tiên thiên đan điền và mệnh môn hoả vô hình có thật ở trong chúng ta. Hai cơ quan đặc biệt này luôn thu phát năng lượng vũ trụ (tiên thiên) và điều tiết đúng mức để duy trì cân bằng sự sống.
Mệnh môn hoả là cửa ngõ của sinh mệnh, là cầu nối giữa con người với vũ trụ. Khi mệnh môn hoả tắt thì sự sống của con người ấy không còn nữa. Nên cụ Lãn Ông ví “mệnh môn hoả là mặt trời của cơ thể”.
Các bậc thánh hiền, có khả năng thông thiên địa, thấy được rõ ràng vô cực, thái cực, âm dương, trời đất, vô hình, hữu hình; thấy được các luân xa và hệ thống kinh lạc giao hoà năng lượng giữa vũ trụ trời đất với sinh vật và con người. Từ vũ trụ trời đất, năng lượng tiên thiên được chu lưu vào con người qua các huyệt đạo theo kinh lạc nạp vào đan điền và phát hoả ở mệnh môn. Đó là cầu nối giữa dương (trời) và âm (con người), nối giữa khí trời vô hình với con người hữu hình.
Khí vô hình (gồm cả âm và dương) vào nuôi sống con người, khí âm trữ ở đan điền, khí dương trữ ở mệnh môn - đó là hai cơ quan âm dương vô hình mà ta thường lạm dụng gọi nôm na là thận âm và thận dương.
Thực chất, hai quả thận là phần âm hữu hình của hậu thiên làm chức năng chống úng và giải độc mà thôi.
Cụ Trọng Cảnh chế ra bài thận khí hoàn là để bổ vào hai cơ quan tiên thiên vô hình của con người là đan điền và mệnh môn ấy để tăng cường khả năng thu phát năng lượng tiên thiên của vũ trụ.
Cụ Lãn Ông đã hiểu được vấn đề này nên rất tâm đắc với tiên thiên âm dương thuỷ hoả và trọng dụng hai bài lục bát vị.
Trong phần tiên thiên đó có cả âm và dương nhưng xét trong phạm trù con người thì phần vô hình này thuộc dương, phần thể xác hữu hình thuộc âm. Nội kinh nói “dương chủ sinh – âm chủ sát” vì vậy cần lưu tâm để củng cố bồi đắp cho phần dương vô hình này là căn bản để bảo toàn năng lượng cho tinh - khí - thần để duy trì cân bằng sự sống.
Vậy nên trong phương thư đã nhắc nhở chúng ta: “Nhà y mà không hiểu rõ chân tướng của tiên thiên thái cực, không nghiên cứu tác dụng thần diệu của thuỷ hoả vô hình mà không biết trọng dụng các bài thuốc hay như lục vị, bát vị thì về mặt y lý còn thiếu sót đến quá nửa.
Chính vì vậy, bồi đắp phần năng lượng tiên thiên là cốt lõi căn bản nhất để duy trì sự sống. Đây cũng là yếu quyết của y học dự phòng.
Hiện nay có việc sản xuất hai bài thuốc lục vị, bát vị có một số xí nghiệp đã và đang làm. Tuy nhiên, phương pháp chế biến chưa trọn vẹn chính xác nên hiệu lực của thuốc chưa cao.
2. Năng lượng hậu thiên - nguồn động lực cho quá trình ngũ hành “sinh - trưởng - hoá - thu - tàng”.
Thời hoàng đế, sách Nội kinh đã chỉ rõ “thiên tả truyền - địa hãu chuyển”, nghĩa là: trời quay về bên trái, đất quay về bên phải. Mãi đến thời Galilê ở phương Tây (thế kỷ thứ XVII) mới xác định được quả đất quay.
Cổ nhân đã cho chúng ta thấy rằng: khi hình thành các tiểu phần của vũ trụ, các hành tinh, các ngôi sao cho đến các hạt bụi và khí vô hình đều chuyển động trong không gian bao la nhờ vào năng lượng tiên thiên siêu nhiên tự có.
Sự chuyển động đó có một quy luật nhất định theo ngũ hành tương sinh, tương khắc, chế hoá, điều hoà thúc đẩy lẫn nhau tạo nên sự vận động theo một vòng tuần hoàn liên tục không đầu mối: “Sinh →trưởng →hoá →thu →tàng... →sinh...”. Ở thế giới hữu hình là “thuỷ →mộc →hoả →thổ →kim →thuỷ...”; ở sinh vật: “sinh ra →lớn lên →phát triển →già →chết →sinh...”
Mọi vật trong vũ trụ đều chuyển động tuần hoà và đều có sự sống của nó. Quả đất quay xung quanh mặt trời theo các phương vị khác nhau tạo ra bốn mùa xuân - hạ - thu - đông. Khí hậu thời tiết trên quả đất cũng thay đổi theo từng ngày, từng tháng, từng mùa, từng năm, theo nhịp của hệ mặt trời; của hệ nhị thập bát tú và của hệ vũ trụ; theo từng vận, từng hội, từng nguyên. Mỗi ngày, giờ, tháng, năm, vận, hội, nguyên, đều có cái chung theo quy luật ngũ hành tuần hoàn và cái riêng đặc thù của nó. Sách vận khí trong nội kinh được cụ Lãn Ông hệ thống lại đã nói rõ điều đó.
Bởi âm - dương - thiên - địa đồng nhất lý nên trong con người khí ngũ hành theo các đường kinh vận chuyển, khai, nạp, được nêu rõ trong “tý ngọ lưu chú”, trong “linh quy bát pháp” và vòng tròn “đại chu thiên” chắc chúng ta ai cũng biết.
Các tạng phủ hữu hình trong cơ thể chúng ta cũng có sự tương tác lẫn nhau theo quy luật vận động của ngũ hành: “thận thuỷ sinh can mộc, can mộc sinh tâm hoả, tâm hoả sinh tỳ thổ, tỳ thổ sinh phế kim, phế kim sinh thận thuỷ... thận thuỷ sinh can mộc...” ngược lại các tạng phủ cũng có sự ước thúc lẫn nhau để kiềm chế sự thái quá của tương sinh theo quy luật tương khắc chế hoá. Đó là nguồn động lực chỉ huy sự vận động không ngừng của âm dương, khí huyết, tân dịch, vinh vệ làm cho cơ thể chúng ta hoạt động chuyển hoá sinh →trưởng →hoá →thu →tàng →sinh...
Con người là tiểu thiên địa (tiểu vũ trụ) theo thuyết thiên - địa - nhân hợp nhất: một khi khí hậu thời tiết thay đổi con người phải thay đổi thích ứng. Các khí phong - hàn - thử - thấp - táo - nhiệt, bình thường chu chuyển để nuôi dưỡng con người, nhưng khi thái quá (trời đất bệnh) lục khí đó biến thành tà khí gây bệnh cho con người gọi là lục dâm... Điều này trong Thương hàn luận đã có cả một hệ thống lý luận sâu sắc.
Khí trời đất bình thường giao hoà đồng hoá, hợp hoá tạo nên sự sống. Khí trời là khí tiêu thiên hợp hoá với khí đất là khí hậu thiên tạo nên n cơ bản để đảm bảo sự sống tồn vong của các sinh vật và con người.
Chính vì vậy chúng ta không được quên gốc của phần năng lượng hậu thiên (khí đất) tạo nên thể xác ngũ hành hữu hình của chúng ta.
Trong thân ngũ đại của ngũ hành kim - mộc - thuỷ - hoả - thổ tạo nên thể xác ta, mà các tạng phủ là rường cột cần phải bảo trì để cho chúng ta đều mạnh khoẻ và cân bằng động với nhau. Tỳ thổ là gốc của 5 hành. Thổ đứng ở giữa là trung tâm, là đầu mối của sự vận hành này. Thổ như cái cốt quay, thổ ngừng hoạt động thì các hành khác trong ngũ hành cũng ngừng hoạt động. Khí đất (thổ) được con người hấp thu vào tỳ vị phế qua ăn uống, hít thở. Đây là chu trình “âm” ngược với chu trình “dương” của việc hấp thu khí trời theo huyệt đạo vào các đường kinh nạp ở đan điền và mệnh môn. Khi ta thở ra thì khí trời (tiên thiên) đi vào và ngược lại khi ta hít vào thì khí trời đi ra. Đây là nguyên lý một hô hấp của “đạo” mà cụ Lão Tử đã nói.
Thức ăn, nước uống, hơi thở là nguồn của sự sống phần hậu thiên hữu hình (thân thể, lục phủ, ngũ tạng, vinh vệ, khí huyết, tân dịch). Đó là thứ thuốc hàng đầu của phần hậu thiên. Vậy nên phải đặc biệt chú ý đến thức ăn, nước uống, môi trường không khí, cần giữ cho trong sạch. Đáng tiếc hiện nay lương thực thực phẩm, không khí trên trái đất (ngôi nhà lý tưởng của con người) đang ngày càng bị ô nhiễm.
Tỳ vị và phế là các tạng phủ hấp thu chuyển hoá khí hậu thiên. Vậy thì việc bổ tỳ vị, phế để phân thanh biệt trọc là nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta. Từ xưa, cụ Lý Đông Viên đã chú trọng đến phần hậu thiên tỳ vị và sáng tạo ra hệ thống lý luận bổ trung thổ (bởi thổ là mẹ của vạn vật). Bài bổ trung ích khí lấy bổ hư để công tà thật là linh diệu. Bài quy tỳ để bổ hậu thiên tỳ vị của ông Nghiêm Dụng Hoà thật là ổn đáng...
Tóm lại, củng cố bồi đắp phần năng lượng hậu thiên hữu hình để cân bằng với phần năng lượng tiên thiên vô hình cần phải lưu tâm thích đáng.
3. Sự thật trong việc dùng thuốc hiện nay
Trong dân gian hiện nay nhiều người dùng thuốc theo mốt không kể âm dương, hàn nhiệt, hư thực. Ví như phong trào uống nhân trần, mật gấu, tam thất, nấm linh chi, hoa tam thất, mướp đắng, chè dây, chè thanh nhiệt... mà không cần sự chỉ định của thầy thuốc. Dĩ nhiên bất kỳ một loại thuốc nào nếu dùng đúng công năng và liều lượng khi có bệnh đều tốt, ngược lại dùng sai sẽ tác hại.
Trong châm cứu việc hiện đại hoá bằng máy điện châm làm cho một số thầy thuốc quên cả y lý cứ dùng kim châm, bật điện cho rung, không kể gì hàn nhiệt hư thực, cũng quên nốt cả ôn châm và cứu. Mặt khác có thầy thuốc chưa nghiên cứu về luật nhân thần cấm kỵ nên để xẩy ra vựng châm...
Hiện tại có nhiều cơ sở sản xuất các loại thuốc Đông dược khác nhau bằng công nghệ hiện đại. Song một số loại thuốc chưa hoàn toàn dựa trên cơ sở y học cổ truyền. Có nơi còn sản xuất thuốc theo thị hiếu, bất luận bản chất thuốc đó ra sao.
Ví dụ chế bài lục vị, bát vị thì dùng “thục địa” sấy từ sinh địa ninh nhừ, không cửu chưng cửu sái, quên lời cổ nhân “phi thái dương bất thành thục địa”. Lý Đông Viên dùng bài thuốc bổ trung ích khí cho người trung khí hư để trị bệnh khí hư hạ hãm, không đẩy tà ra được thì cứ quảng cáo là thuốc bổ. Hoặc dùng thập toàn đại bổ sắc thang, ngâm rượu; hoặc rượu bổ “Minh Mệnh thang” để bổ hư cho tất cả mọi người kể cả những người đang có tà khí, thì làm sao tránh được làm thực chỗ đã thực của từng người riêng biệt. Người ta chưa rõ chữ “bổ” cho nên lầm tưởng thuốc bổ không hại gì, ai uống cũng được. Nghĩa của chữ “bổ” là “vá”, bổ sung vào chỗ bất túc. Nếu người bẩm sinh có chỗ hưu dư, hoặc tà khí đang ẩn nấp mà bổ khí thì khắc sẽ mắc bệnh thực. Vậy nên có người uống nhung hươu rồi lở loét mà chết;
Ngược lại có cơ sở sản xuất thuốc hàn lương công phạt thái quá. Họ dùng các vị hoàng đằng, hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm, chỉ thực, hậu phác liều cao làm quân, uống vào rất kiến hiệu. Nhưng sau đó bệnh nhân sức cùng lực kiệt, đúng là chỉ “khư khư trục bệnh mà quên cả tính mệnh” như cụ Lãn Ông đã dạy!
Mặt khác tư duy phân tích đã dẫn người ta đến chỗ chiết xuất riêng biệt từng hoạt chất trong dược liệu để chữa bệnh quên hẳn Luật “quân - thần - tá - sứ”. Hoặc chế thuốc cảm đơn giản như “xuyên hương”, “khung chỉ” thì làm sao trị hết tà khí thác tạp do phong - hàn - thử - thấp - táo - nhiệt gây nên.
Vậy nên khi khám bệnh cần phải phân biệt rạch ròi, nếu có tà khí thì phải công tà, nếu vì hưu yếu thì phải bổ hư, tạng phủ nào suy thì bổ đúng vào đó, hàn thì ôn, nhiệt thì thanh Nghe thì như đã biết nhưng thực chất phân biệt chính xác không phải dễ vì âm dương hàn nhiệt hư thực chân giả diễn ra thác tạp trên từng cơ thể riêng biệt.
Nếu chung ta không dựa trên cơ sở của nền triết học phương Đông, không hiểu về tiên thiên thái cực, không rõ về hậu thiên ngũ hành, không biết về thiên địa nhân hợp nhất, chưa am tường kinh lạc - tạng phủ - vinh vệ - khí huyết - tân dịch thì sẽ bỏ gốc theo ngọn. Hoặc trị bệnh chế thuốc trị tiêu chữa chứng quên hẳn nguyên nhân sinh ra bệnh như ‘trèo cây tìm cá” mà cụ Lãn Ông đã dạy. Hoặc không chú ý đến nguyên khí cứ dùng thuốc công phát thái quá để đến nỗi khi bệnh hết thì mệnh cũng chẳng còn như “giết rận đốt áo”.
Thực tiễn lâm sàng giả chứng, âm dương hư thực, hàn nhiệt, biểu lý thác tạp, nếu theo chứng mà trị “thượng chứng hạ bài” thì sẽ rối loạn và việc làm hại người là điều khó tránh khỏi!
Ngoài ra do thời tiết, khí hậu, môi trường thức ăn, nước uống, ý thức con người ở hội ngộ sa vào văn minh vật chất đã làm cho bệnh tật diễn biến ngày càng phức tạp. Các tư liệu cổ đã nêu ra quy luật nhưng không chỉ ra hết được. Chỉ có chúng ta sống trong thực tại, tự chứng kiến để thuận theo thiên - địa - nhân mà hành nghiệp mới tránh được sai lầm.
4. Kết luận
Trên đây là hai cơ sở chính để chúng ta chú ý bảo toàn hai loại năng lượng tiên thiên và hậu thiên. Để hiện đại hoá nền Đông y, chúng ta cần nhớ câu “phi cổ bất thành kim”. Các lương y, dược sỹ, lương dược, bác sĩ phải bác cổ, thông kim mới biết chẩn trị, chế thuốc để bảo toàn hai năng lượng gốc nhằm duy trì sự sống, chống đỡ bệnh tật. Nếu chung ta quên gốc “vương đạo” đó thì sẽ chữa chứng, chữa hậu quả, phạt hết nguyên khí thì đâu còn gọi là cứu người nữa!
Trên đây là những hiểu biết nhỏ bé của tôi, mong góp phần bảo tồn vốn quý của y học phương Đông, nhằm bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân.
Nguồn: T/c Đông y, số 35,25/7/2003







