Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 20/07/2010 23:27 (GMT+7)

Tình hình quản lý chất lượng thép xây dựng hiện nay

I. Một số quy định mới về quản lý chất lượng

Theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta là thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới WTO, tình hình quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã có chuyển biến. Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa năm 1999 hết hiệu lực. Ngày 29/6/2006 Quốc hội thông qua Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Ngày 21/11/2007 Quốc hội thông qua Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008.

- Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.

Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng.

- Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.

Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng.

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm:

1. Công bố tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường.

2. Công bố sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

3. Đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đã công bố.

Việc công bố tiêu chuẩn áp dụng được quy định như sau:

Người sản xuất, người nhập khẩu tự công bố các đặc tính cơ bản, thông tin cảnh báo, số hiệu tiêu chuẩn trên hàng hóa hoặc một trong các phương tiện sau:

1. Bao bì hàng hóa.

2. Nhãn hàng hóa.

3. Tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa.

Nội dung của tiêu chuẩn công bố áp dụng không được trái với yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật quy định hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam gồm:

1. Tiêu chuẩn quốc gia,ký hiệu TCVN (số) (năm ban hành).

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ tổ chức xây dựng dự thảo tiêu chuẩn quốc gia và đề nghị thẩm định, công bố tiêu chuẩn quốc gia. Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định dự thảo tiêu chuẩn quốc gia và công bố tiêu chuẩn quốc gia.

2. Tiêu chuẩn cơ sở, ký hiệu TCCS (số) (năm xây dựng)/ký hiệu viết tắt của cơ sở.

Tiêu chuẩn cơ sở do người đứng đầu tổ chức (gồm tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp) tổ chức xây dựng và công bố để áp dụng trong các hoạt động của cơ sở.

Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam gồm:

1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, ký hiệu là QCVN

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Chính phủ quy định việc xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn quốc gia mang tính liên ngành và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan thuộc chính phủ.

2. Quy chuẩn kỹ thuật địa phương, ký hiệu QCĐP

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương để áp dụng trong phạm vi quản lý của địa phương đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, đặc thù của địa phương và yêu cầu cụ thể về môi trường cho phù hợp đặc điểm về địa lý, khí hậu, thuỷ văn, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Quy chuẩn kỹ thuật địa phương được ban hành sau khi được sự đồng ý của Bộ quản lý chuyên ngành, lĩnh vực.

II. Tình hình quản lý chất lượng thép xây dựng hiện nay

Việc quản lý chất lượng thép xây dựng hiện nay phải tuân thủ quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã có hiệu lực thi hành.

Chất lượng thép xây dựng được đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu:cấu trúc và thành phần hóa học, các chỉ tiêu kích thước, đặc biệt là các chỉ tiêu cơ lý. Theo quy định pháp luật hiện hành, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu thép xây dựng có trách nhiệm lựa chọn và công bố tiêu chuẩn áp dụng. Tiêu chuẩn là tự nguyện áp dụng, do đó doanh nghiệp được quyền lựa chọn các loại tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực... để áp dụng cho sản phẩm, hàng hóa của mình. Doanh nghiệp đã công bố tiêu chuẩn áp dụng có trách nhiệm đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa của mình phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố. Các cơ quan quản lý chất lượng căn cứ vào tiêu chuẩn công bố áp dụng của doanh nghiệp thực hiện quản lý chất lượng theo quy định. Tiêu chuẩn công bố áp dụng của doanh nghiệp không được trái với quy định của quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thép xây dựng công bố áp dụng các tiêu chuẩn sau: TCVN 1650-85; TCVN 6285:1997; TCVN 1656:1993; JIS G3191-1966; JIS G3112-1987; JIS G3509-1980; JIS G3505-1996; JIS G3112-2004; ASTM A615/A615M, BS 4449:1997 và các tiêu chuẩn cơ sở do doanh nghiệp soạn thảo, công bố áp dụng - các tiêu chuẩn do doanh nghiệp soạn thảo chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế, chỉ thay đổi chỉ tiêu kích thước cơ bản để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

Các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng trong nước có uy tín về chất lượng trong ngành xây dựng như công ty gang thép Thái Nguyên, Công ty sản xuất thép Úc SSE, Công ty liên doanh sản xuất thép VinaUsteel, Công ty thép VSC - POSCO... đều có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn TCVN/ISO 9001:2000, có phòng thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng phù hợp tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005. Các doanh nghiệp này thực hiện kiểm soát chất lượng chặt chẽ, do đó chất lượng sản phẩm, hàng hóa đa số phù hợp tiêu chuẩn đã công bố áp dụng, kèm theo mỗi lô hàng xuất bán đều có phiếu thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng của phòng thử nghiệm được công nhận (VILAS). Các doanh nghiệp này chất lượng được kiểm soát chặt chẽ từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm xuất bán và đảm bảo dịch vụ sau bán hàng. Các lô phôi thép nhập khẩu có xuất xứ rõ ràng và được lấy mẫu thử nghiệm thành phần hóa học và cấu trúc tế vi tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và Viện Vật liệu xây dựng.

Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép xây dựng trong các "làng nghề" hiện nay, tuy đã được quy hoạch vào khu sản xuất riêng, đảm bảo về môi trường cho khu dân cư, nhưng chất lượng sản phẩm thường không ổn định. Các doanh nghiệp này không có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp, không có điều kiện thử nghiệm mẫu, xuất xứ nguyên liệu đầu vào không rõ ràng, công nghệ lạc hậu do đó sản phẩm có các chỉ tiêu chất lượng đạt thấp. Thép xây dựng do các doanh nghiệp này sản xuất chỉ sử dụng vào mục đích không đòi hỏi về an toàn cao và thường là nguồn cung cấp thép xây dựng nhái nhãn hiệu của các doanh nghiệp có uy tín. Đây là vấn đề nan giải trong quản lý chất lượng thép xây dựng.

Việc công bố tiêu chuẩn áp dụng của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép xây dựng được ghi trên nhãn hàng hóa. Các cuộn thép, bó thép của các doanh nghiệp đều có một tấm kẽm nhỏ, hoặc bìa giấy cứng in các nội dung ghi nhãn hàng hóa theo quy định tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ. Trên nhãn hàng hóa của thép xây dựng hiện nay có các nội dung bắt buộc sau:

- Tên hàng hóa.

- Tên và địa chỉ của doanh nghiệp.

- Tiêu chuẩn áp dụng.

- Định lượng.

- Thông số kỹ thuật cơ bản.

Trên các thanh thép xây dựng được in nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp đã được bảo hộ như Công ty gang thép Thái Nguyên - nhãn hiệu: TISCO, Công ty thép VPC - POSO - nhãn hiệu: VPS, Công ty liên doanh sản xuất thép VinaUsteel - nhãn hiệu: VU ...

Chất lượng thép xây dựng nhập khẩu và trên thị trường hiện nay được kiểm tra theo quy định tại Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg ngày 07/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó các lô thép xây dựng nhập khẩu được kiểm tra phải phù hợp quy định tại các tiêu chuẩn quốc gia hiện hành tương ứng.

Theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa do Bộ quản lý ngành, lĩnh vực tổ chức và chỉ đạo thực hiện... Trong thời gian tới khi triển khai đầy đủ quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, chất lượng hàng hóa sẽ được kiểm soát chặt chẽ từ sản xuất, nhập khẩu đến khâu lưu thông trên thị trường.

III. Một số khuyến cáo với người tiêu dùng thép xây dựng:

- Khi mua thép xây dựng ở các cửa hàng đại lý người tiêu dùng cần xem xét nhãn hàng hóa, phiếu kết quả thử nghiệm kèm theo có ở đại lý. Khi nhận hàng cần lấy hóa đơn thanh toán, trong đó ghi rõ tên, địa chỉ nhà sản xuất, nhập khẩu và chủng loại thép xây dựng để nhận được sự bảo hành sản phẩm, hàng hóa của nhà sản xuất, có cơ sở khiếu nại chất lượng khi cần.

- Với các công trình lớn đòi hỏi mức độ an toàn cao như cầu, nhà nhiều tầng... cần ký hợp đồng mua trực tiếp với nhà sản xuất có uy tín. Nếu có điều kiện, trước khi đưa thép xây dựng vào công trình nên lấy mẫu thử nghiệm lại các chỉ tiêu chất lượng tại phòng thử nghiệm được công nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005 để lấy kết quả thử nghiệm làm căn cứ quyết định việc đưa vào sử dụng hay không.

IV. Một số kiến nghị:

Thép xây dựng là sản phẩm, hàng hóa đóng vai trò chịu lực chủ yếu trong kết cấu bê tông cốt thép của hầu hết các công trình xây dựng giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp và dân dụng, có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ và sự an toàn của công trình liên quan đến an toàn tính mạng và tài sản của người sử dụng. Do đó:

1. Đề nghị Bộ quản lý chuyên ngành xem xét xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng thép xây dựng.

2. Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng thép xây dựng từ sản xuất, nhập khẩu đến lưu thông trên thị trường, đặc biệt là đẩy mạnh công tác chống hàng nhái, hàng giả.

3. Các ban quản lý dự án xây dựng tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng, số lượng thép xây dựng trước khi đưa vào công trình đảm bảo đúng thiết kế.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.
Đại hội Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 01 và 02/10/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Cần Thơ đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. ThS. Bùi Minh Châu, nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Chấp hành gồm 36 thành viên.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026
Từ ngày 27/9 đến 3/10, tại Đại học Khoa học - Công nghệ Sirius, Lãnh thổ Liên bang Sirius, Liên bang Nga, đã diễn ra Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026 - một trong những diễn đàn chuyên ngành lớn của Nga về phát triển vi điện tử, cơ sở linh kiện điện tử và các công nghệ điện tử liên quan.
5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.