Tìm hiểu lối nói vòng trong đồng dao
1. Sách Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt(Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy Hồng, Trần Hoàng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998); chép 6 bài đồng dao có cùng kiểu cấu tạo văn bản theo lối nối vòng, như sau:
Bài 1:
Con kiến mày leo cành đa,
Leo phải cành cộc, leo ra leo vào;
Con kiến mày leo cành đào,
Leo phải cành cộc, leo vào leo ra.
Bài 2:
Em tôi buồn ngủ buồn nghê,
Buồn ăn cơm nếp, cháo kê thịt gà;
Em tôi buồn ngủ buồn ngà,
Buồn ăn cơm nếp, thịt gà cháo kê.
Bài 3:
Mẹ em đi chợ đường ngoài,
Mua em cây mía vừa dài vừa cong;
Mẹ em đi chợ đường trong,
Mua em cây mía vừa cong vừa dài.
Bài 4:
Ba bà đi bán lợn con,
Bán đi chẳng được, lon ton chạy về;
Ba bà đi bán lợn sề,
Bán đi chẳng được, chạy về lon ton.
Bài 5:
Vân Tiên cõng mẹ đi ra,
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ đi vô;
Vân Tiên cõng mẹ đi vô,
Đụng phải cái bồ, cõng mẹ đi ra.
Bài 6:
Ông Nỉnh ông Ninh,
Ông ra đầu đình,
Lại gặp ông Nang.
Ông Nảng ông Nang,
Ông ra đầu làng,
Lại gặp ông Ninh.
2. “Nối vòng” được hiểu là quay trở lại từ đầu khi văn bản kết thúc. Việc đọc loại văn bản này cũng tương tự như chiếc xe chạy trên một đường tròn, càng nhạy thì càng giẫm lên những vết đường đã đi qua, và cứ quẩn quanh như thế mãi.
Để tiện xem xét, tạm chia 6 bài đồng dao này làm hai nhóm: nhóm 1, gồm bốn bài đầu (bài 1, 2, 3 và 4); nhóm 2, gồm hai bài còn lại (bài 5 và 6).
Cách tạo nối vòng ở các bài đồng dao vừa dẫn như sau:
2.1 Về thể thơ, cùng theo thể lục bát, mỗi bài gồm hai cặp, 28 tiếng. Riêng bài 6, cũng có thể xem thuộc thể thơ này, lối biến thể, dòng lục chỉ bốn tiếng, vần ở dòng bát chuyển từ vị trí thứ sáu sang thứ tư, và chỉ 24 tiếng, như sau:
Ông Nỉnh ông Ninh,
Ông ra đầu đình, lại gặp ông Nang.
Ông Nảng ông Nang,
Ông ra đầu làng, lại gặp ông Ninh.
Nói “có thể”, bởi ở đây, tuy bài thơ bị lệch ra so với hệ thống, nhưng lại có sự phù hợp nhất định của nó với hệ thống ấy, nên chuyển theo để tiện xem xét. Vả lại, lối biến thể chuyển dịch vần của bài này, cũng cùng một dạng với bài 5, chỉ rút bớt một số tiếng ở dòng lục mới lệch ra hoàn toàn.
2.2 Về đối tượng được đề cập, mỗi bài chỉ kể một sự việc. Sự việc ấy gồm hai chi tiết. Hai chi tiết của cùng một sự việc thường có tính chất bổ sung cho nhau, hay chúng là hai mặt của sự việc ấy, như “Con kiến mày leo cành đào; Leo phải cành cộc, leo vào leo ra”, ở bài 1. Có trường hợp việc tách làm hai chi tiết này chỉ là hình thức, tác giả tách làm hai chi tiết (thực chất chỉ là một); đó là: “Em tôi buồn ngủ buồn nghê; Buồn ăn cơm nếp, cháo kê thịt gà” và “Em tôi buồn ngủ buồn ngà; Buồn ăn cơm nếp, thịt gà cháo kê”, ở bài 2. Vì là hai mặt tương liên, hoặc chỉ giả làm hai mặt của cùng một sự việc, nên mặt thứ hai không có gì mới, nó lặp thông tin, khiến toàn bài hình thành một nghĩa có tính chất khái quát: sự luẩn quẩn.
2.3 Về cách tạo lời, mỗi chi tiết của sự việc được thể hiện bằng một cặp lục bát. Hai cặp lục bát của hai chi tiết như hai cánh của cái ná, chúng đối xứng nhau.
Hình ảnh hai cánh của cái ná mà chúng ta vừa dùng để so sánh cách tạo lời của hai cặp lục bát các bài đồng dao, đồng thời cũng cho thấy, đây là hình thức lặp mạnh, cả mô hình cấu trúc cú pháp lẫn từ vựng. Riêng từ vựng, sử dụng chưa đến một nửa số tiếng (hầu hết cũng là từ) cho phép: bài 1: 11/28 (39,3%), các bài 2, 3 và 4: 13/28 (46,4%)…
2.4 Về cách gieo vần, mỗi nhóm sử dụng một kiểu riêng. Cái chung là, cả hai kiểu gieo vần đều có tác dụng kéo người đọc trở lại điểm xuất phát.
Dưới đây, là việc miêu tả hai kiểu gieo vần ấy:
- Với bốn bài nhóm 1, vần ở bốn dòng thơ được gieo như sau (hai tiếng A, A’ vần với nhau; hai tiếng B, B’ vần với nhau):
Các tiếng trong dòng: (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8)
Dòng 1:
- - - - A
Dòng 2:
- - - - A’ - B
Dòng 3:
- - - - B’
Dòng 4:
- - - - B - A’
Lối kết hợp của 6 tiếng mang vần này đòi hỏi một sự nối tiếp theo cách quay vòng trở lại: AA’B -B’BA’ + AA’B -B’BA’ +…
- Với hai bài nhóm 2, vần ở bốn dòng thơ được gieo như sau:
Các tiếng trong dòng: (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8)
Dòng 1:
- - - - A
Dòng 2:
- - A’ - - - - B
Dòng 3:
- - - - B
Dòng 4:
- - B - - - - A
Lối kết nối của 6 tiếng mang vần này, cũng đòi hỏi một sự nối tiếp theo cách quay vòng trở lại: AA’B-BB’A + AA’B-BB’A + …
3. Bên cạnh đồng dao, trong văn học dân gian, lối nói vòng cũng được tìm thấy trong tục ngữ:
- Gà ăn mối, mối ăn thổ công, thổ công ăn gà.
Và ca dao:
Thà mà ăn cá liệt bàu,
Không thà lấy khách trên đầu có đuôi;
Thà mà ăn cá liệt xuôi,
Không thà lấy khách có đuôi trên đầu (1)
Có điều, số lượng văn bản nối vòng của hai thể loại này so với đồng dao không phong phú bằng.
Trong nền thơ trung đại, lối nói vòng thường gặp là thủ vĩ ngâm, ở thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường. Nhiều nhà thơ đã sử dụng dạng thơ này, như Nguyễn Bỉnh Khiêm (bài thơ Nôm 89), Hồ Xuân Hương ( Khóc ông Phủ Vĩnh Tường), Nguyễn Công Trứ ( Tương tư), Trần Tế Xương ( Cảm Tết)… (2). Một dạng thơ khác, ít gặp hơn, là hồi văn. Nhưng vài sáng tác được cho là thuộc dạng này, không hẳn đã “quay trở lại từ đầu” để nối vòng văn bản (theo cách hiểu đã trình bày của bài viết) (3).
Một dạng khác, gọi là thủ vĩ liên hoàn (thể thất ngôn bát cú luật Đường, có vài ba tiếng ở đầu dòng một và cuối dùng tám giống nhau), và thủ vĩ liên hoàn điệp dụng (thể thất ngôn tứ tuyệt, vừa có vài ba tiếng ở đầu dòng một và cuối dòng bốn giống nhau, vừa dùng phép điện mạnh), cũng rất ít gặp; bài dưới đây, của Nguyễn Khoa Vy, bài Khuyên đờiđã sử dụng hai dạng thơ vừa nêu:
- Ai ơita cứ việc vui chơ,
Suy tính chi cho mệt xác đời!
Khôn dại cũng thành ra cục đất,
Nên hư đành đã có ông trời.
Đường đi rải rác nghe chim bước,
Câu chuyện sơ sơ khỏi mệt hơi.
Dòm giỏ ngó oi thêm mỏi mắt,
Sâu ao béo cá hỡi ai ơi!
Có thể thấy rằng, lối nói vòng không phù hợp với mảnh đất tục ngữ, và cũng tỏ ra bất thuận với ca dao. Còn với vắn chương bác học, dạng thủ vĩ ngâm, sự nối vòng do áp lực của hình thức (sự giống nhau về lời, về luật hài thanh của hai dòng thơ đầu và cuối), chứ không phải đòi hỏi của đối tượng được đề cập (nội dung sự việc). Điều này không phải luận giải, bởi nó được thể hiện rõ ràng qua hình thức bình thường của thể thơ, cả qua dạng liên hoàn đã nêu. Nhưng riêng với dạng thủ vĩ liên hoàn điệp dụng, thì sự nối vòng được cả nội dung lẫn hình thức của dạng thơ tập trung thể hiện. Có điều, là dạng thơ này, sự dụng công lộ ra khá rõ, và dễ gây nhàm chán khi tiếp xúc với nhiều bài. Trong lúc, với đồng dao, thì điều ấy hầu như không xảy ra. Những bài được cấu tạo theo lối nói vòng rất tự nhiên, thanh thoát, càng đọc càng thú vị, đến mức, các phân tích, khảo tả vừa trình bày có thể sẽ khiến không ít người lấy làm lạ, bởi tưởng chừng như không phải từ chúng.
Tóm lại, do nội dung được phân đôi rồi kết hợp trong một phép lặn mạnh, điệp vần nội bộ và liên thông giữa dòng đầu và dòng cuối, nên kiểu văn bản thơ đang bàn có thể đọc nối vòng bất tận. Chúng nhằm tạo ý luẩn quẩn, cuốn hút người nghe vào cái vòng tưởng chừng đơn giản mà thật ra là rất khó thoát, để giải trí. Là một sáng tạo độc đáo, một đóng góp đáng kể cho nghệ thuật văn chương của đồng dao.
Chú thích
1. Cá liệt xuôi và cá liệt bàu đều chỉ loài cá liệt nước ngọt, ở sông hói cạn, thịt không béo lại có nhiều xương. “Khách trên đầu có đuôi”: chỉ người đàn ông Minh Hương, tuy ở Việt Nam nhưng vẫn để tóc tết thành bím dài, theo lối nhà Thanh.
2. “Thủ vĩ ngâm” là dạng đặc biệt của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường, do có dòng đầu và dòng cuối giống nhau.
3. Theo Đào Duy Anh, ởHán Việt từ điển giản yếu (bản in lần 2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr 387), thì hồi văn là “thể văn đọc quanh co đi lại đều thành câu cả”. Lãng Nhân, trongChơi chữ (Nxb Văn học, 1992, tr 271 - 272).








