Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/11/2006 14:00 (GMT+7)

Tìm hiểu biểu tượng Vạn

Biểu tượng Vạn nguyên tiếng Phạn là Swastika được phiên âm là Thất-lợi-bạt-tha và dịch nghĩa là Cát Tường Hải Vân (vầng mây lành trên biển) hay Cát Tường Hỷ Triền (vòng xuay tốt lành). Hình vẽ tướng Vạn vốn là biểu tượng dùng để biểu thị tính chất tốt lành của dân tộc Ấn Độ cổ đại nói riêng và của cả chủng người Aryan nói chung. Vì vậy, nó không chỉ là biểu tượng phổ biến ở Ấn Độ mà ở cả các nước Ba Tư, Hy Lạp... người ta cũng xem nó là biểu tượng của mình. Đó là một hình vẽ có từ thời xa xưa, thời tồn tại tín ngưỡng bái vật giáo. Trong tư tưởng của người phương Đông cho rằng nó tượng trưng cho mặt trời và tia lửa, biểu ý tập trung rực rỡ kiết tường. Có lẽ, do tướng vạn mang ý nghĩa phổ biến là dấu hiệu của sự tốt lành và viên mãn nên nhiều tôn giáo Cổ đại ở Ấn Độ như Bàlamôn giáo, Kỳ na giáo v.v... cũng đều sử dụng biểu tượng này. Có nghĩa là trước khi Phật giáo ra đời thì đã có sự hiện diện của biểu tượng này.

Theo quan niệm của người Ấn Độ, phàm những ai có chân mạng trở thành những bậc Chuyển Luân Thánh Vương, các vị Phạm Thiên Vương và các bậc Hiền nhân có thể xoay chuyển càn khôn, mang lại hạnh phúc cho thiên hạ đều có 32 tướng tốt (tướng vạn là một trong 32 tướng tốt đó) ngay khi còn thuở bé. Có lẽ, xuất phát từ quan niệm này mà người Ấn Độ có tục xem tướng cho trẻ vào những ngày đầu đời, để đoán định vận mệnh tương lai cho bé. Đức Phật là Thánh Vương trong các Pháp, đương nhiên cũng có 32 tướng tốt đó. Điều này được minh chứng trong nhiều kinh tạng Phật giáo. Kinh Trường A Hàm quyển 1 viết rằng, tướng Vạn là tướng đại nhân, nằm trước ngực của đức Phật. Kinh Tát Giá Ni Kiền Tử Sở Thuyết quyển 6 viết, đó là tướng tốt, thứ tám mươi của Phật Thích Ca. Kinh Thập Địa Luận quyển 12 ghi, Bồ Tát Thích Ca lúc chưa thành Phật, trước ngực đã có tướng Vạn công đức trang nghiêm. Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 3, ghi rằng tóc của đức Phật cũng có năm tướng Vạn. Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự quyển 29 viết, ở giữa hông của Phật cũng có tướng Vạn. Thậm chí, trong Kinh Đạo Bát Nhã quyển 381 cho rằng, chân và trước ngực đều có tướng kiết tường hỉ toàn để biểu thị công đức của Phật (1). Từ những kinh tạng trên cho thấy, tướng Vạn là biểu tượng chỉ sự kiết tường, biểu trưng cho công đức vô lượng, lòng từ bi vô hạn và trí tuệ vô biên của đức Phật. Và biểu tượng này có khắp trên thân của đức Phật không chỉ duy nhất ở ngực như chúng ta từng thấy.

Đối với tín đồ Bàlamôn giáo biểu tượng Vạn chỉ là chòm lông xoáy ở trước ngực của thần Visnu và Krisna, là một trong những tướng tốt của các vị thần. Truy tìm nguồn gốc của văn hoá dân tộc Ấn Độ, biểu tượng Vạn vốn là tướng lông xoắn ốc trên đầu bò, về sau biến thành tướng lông xoắn trước ngực thần Visnu. Về sau nữa, tướng này mới trở thành một trong ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân. Ngay từ thế kỷ VIII trước Tây lịch, người Bàlamôn giáo đã ghi chép tướng vạn là thụy tướng biểu hiện trước lồng ngực của thần Visnu. Mãi đến thế kỷ thứ III trước Tây lịch mới thấy trong kinh Phật ghi chép về tướng tốt này (2).

Trong từ điển danh từ Phật học Trung Quốc (A Dictionary of Chinese Buddhistmerms, William Edward Soothill, Lander, 1937, trang 203, 412) cũng cho rằng, tướng vạn là chòm lông xoắn ốc trên ngực của Thần Visnu hay biểu hiện của Thần Visnu; là biểu tượng tốt lành trên dấu chân của Phật và cũng là biểu hiện của bậc Đại nhân đời xưa (3).

Như vậy, từ những dẫn chứng trên, chúng ta thấy rằng tướng vạn vốn là biểu tượng của sự cát tường, công đức viên mãn. Biểu tượng này hoàn toàn không phải là chữ viết như đại đa số người từng quan niệm. Vậy, thói quen xưa nay thường gọi tướng vạn là chữ vạn bắt nguồn từ khi nào, do ai đề xướng. Khi Phật giáo mới du nhập vào Trung Quốc, tên gọi “chữ vạn” chưa được phổ biến, trong kinh Lăng Nghiêm vẫn còn gọi hình Swastika là “Phật tâm ấn”. Vào khoảng thế kỷ thứ VI-VII Tây lịch, các nhà tạc tượng Trung Quốc đã áp dụng hình này trang sức trên ngực tượng Phật, biểu trưng cho thụy tướng của đức Phật. Sau đó, được các ngài Cưu Ma La Thập thời Diêu Tần và ngài Tam Tạng Huyền Trang đời Đường dịch là chữ “Đức” còn Ngài Bồ Đề Lưu Chi đời Bắc Ngụy dịch là chữ “Vạn” hàm nghĩa là “Công đức viên mãn”. Qua hai cách dịch nghĩa ở trên cho thấy dù có khác nhau nhưng nguyên nghĩa của nó đều chất chứa ý niệm “Tướng” hơn là “Tự” (Chữ). Đến năm Trường Thọ thứ hai (693 Tây lịch), Võ Hậu Tắc Thiên chiếu chỉ khâm định đọc là chữ Vạn, biểu ý cho sự tập hợp của “Vạn đức kiết tường” (4). Chúng tôi luôn tự hỏi không biết bà Võ Hậu căn cứ vào đâu mà khâm định tướng vạn từ một loại biểu tượng trở thành một loại văn tự - chữ Vạn, mặc dù vẫn với biểu ý là sự kiết tường. Chúng tôi được biết về mặt từ nguyên học, chữ Vạn Trung Quốc không liên quan gì đến hình Vạn, mà nghĩa gốc của chữ “Vạn” là con bò cạp (5).

GS. Trần Ngọc Thêm cho rằng thói quen gọi tướng vạn là chữ vạn của người Trung Quốc xuất phát từ ý nghĩa của Swastika là “liên tục”, “không ngừng nghỉ”, “vô lượng”, “vô hạn”, “vô biên” kết hợp với nghĩa của các chữ vạn (10 ngàn), bách (một trăm), thiên (một ngàn)... đều với nghĩa bóng là rất nhiều, vô hạn như vạn tuế, vạn sự, bách khoa, thiên tuế, thiên thu, thiên biến vạn hoá... nên dần dần người Trung Hoa đã gọi hình Swastika với nghĩa bóng là chữ vạn (6). Không biết cách giải thích này có hợp với suy nghĩa của bà Võ Hậu khi xuống chiếu chăng? Và trong thực tế, thói quen gọi tướng vạn là chữ vạn của người Trung Quốc cũng như đa số người Việt Nam theo chiếu chỉ của Võ Hậu Tắc Thiên hay theo cách giải thích của GS. Trần Ngọc Thêm hoặc theo cả hai hoặc theo một sự thực khác. Theo chúng tôi, đây là một biểu tượng văn hoá rất có ý nghĩa về mặt tôn giáo, nên cần có thêm nhiều cứ liệu và trao đổi, bàn bạc thêm của nhiều nhà nghiên cứu để có một kết luận thật hợp lý.

Chiều xoáy của biểu tượng Vạn

Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm và thường xảy ra tranh luận. Tướng Vạn trên ngực tượng Phật ở nhiều chùa tháp của Phật giáo Bắc tông xoay về bên phải đúng hay xoay về bên trái đúng. Vấn đề này thật sự được nói đến, có lẽ, vào thập niên 40 thế kỷ XX, khi mà Đức quốc xã ở châu Âu cũng dùng tướng vạn làm biểu tượng cho chủ nghĩa quân phiệt của mình. Vấn đề khu biệt giữa tướng vạn của Phật giáo và ký hiệu trên quốc kỳ Đức quốc xã đã được nhiều bài viết phân tích rất sáng tỏ, nên ở đây chúng tôi xin không nhắc lại.

Trên thực tế, chúng ta bắt gặp cả hai dạng chiều xoay của tướng vạn. Từ thời cổ đại, người Ấn Độ từng phân biệt rõ ràng tướng Vạn xoay bên phải và xoay bên trái. Ấn Độ giáo dùng tướng Vạn xoay về bên trái để biểu thị các vị thần nam tính và dùng tướng vạn xoay về bên phải để biểu thị các vị thần nữ tính (7). Nếu như vậy, không có lý do gì người Ấn Độ lại sử dụng tướng vạn xoay về bên phải để biểu thị tướng tốt cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Cho nên, tướng vạn trên ngực của đức Phật thời xưa phải xoay về bên trái, như đại đa số chùa tháp ở Việt Nam đang sử dụng.

Nếu căn cứ vào chiều chuyển động tiến lên, về phía trước của các nan hoa bánh xe luôn thuận chiều kim đồng hồ mà cho rằng tướng vạn có hình quay về bên phải là đúng, thì tướng vạn có hình chuyển động quay về bên trái càng đúng hơn. Bởi vì, được biết đây là chiều chuyển động của tự nhiên, là chiều chuyển động ngược kim đồng hồ, là chiều chuyển động từ tâm ra (ly tâm) mà ta có thể dễ dàng bắt gặp ở từ vật nhỏ như dạng xoáy hoa tay, xoáy tóc trên đầu, đường xoáy trên vỏ ốc... cho đến lớn như chiều chuyển động của vũ trụ. Và trong các nghi thức tế thần của các dân tộc ở Đông Nam Á cũng như chiều chuyển động của muôn loài trên tuyệt đại bộ phận các trống đồng Đông Sơn đều theo chiều chuyển động ngược kim đồng hồ, tứ trái sang phải - chiều của sinh thành, của sự sống. Như vậy, tướng vạn có chiều xoay về bên trái, ngược chiều kim đồng hồ là hoàn toàn phù hợp, hoàn toàn đúng theo quy luật chiều chuyển động của tự nhiên, bởi vốn dĩ tướng vạn chỉ là chòm lông xoáy ở trước ngực của đức Phật cũng như các vị thần Bàlamôn giáo. Đức Phật là một con người có thật, có những cấu trúc sinh học giống như một con người bình thường, có dòng máu màu đỏ, thì chiếu xoáy của những hình tướng trên thân đức Phật như tóc trên đầu, hoa tay, lông trên ngực... không thể nào khác so với mọi người. Nghĩa là chúng đều có chiều xoay về bên trái, ngược chiều kim đồng hồ.

Đến đây, chúng tôi xin mạo muội nhận xét rằng tướng vạn của Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng có chiều xoay về bên trái, ngược chiều kim đồng hồ là có cơ sở tự nhiên, là hợp lý. Đừng lấy hình tượng Trung Hoa mà tự ty về mình, vì rằng hiện nay nhiều người cứ bảo tướng vạn trên ngực của những tượng Phật được nhập từ Đài Loan, Hồng Kông và Trung Quốc là đúng. Trong khi thực tế ở Trung Quốc, tướng vạn xoay chiều thuận kim đồng hồ sử dụng không nhiều. Trong cuốn sưu tập tranh Tượng Phật Trung Quốc (do Lý Lược Tam và Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, NXB Mỹ thuật, 1996) với 515 trang nhưng chỉ tìm được 9 tượng Phật có tướng vạn, trong đó có 6 tướng vạn xoay thuận chiều kim đồng hồ và 3 tướng vạn xoay ngược chiều kim đồng hồ. Điều này giải thích thế nào, trong khi thực tế tướng vạn xoay thuận chiều kim đồng hò chiếm 2/3 so với tổng số (9 tướng vạn). Ở Việt Nam tướng vạn ngược chiều kim đồng hồ rất phổ biến không chỉ trên ngực tượng Phật mà còn được dùng để trang trí trên nhiều cấu kiện kiến trúc của ngôi chùa. Trong cuốn Việt Nam danh lam cổ tự (do Võ Văn Tường biên soạn, NXB KHXH, 1992) chỉ với 340 trang mà có tới 21 tướng vạn. Trong đó, tướng vạn ngược chiều kim đồng hồ chiếm số lượng áp đảo 19/21, duy chỉ có 2 tướng vạn thuận chiều kim đồng hồ.

Tóm lại, biểu tượng này vốn là biểu tượng văn hoá có từ thời xưa của chủng người Aryan. Với tính chất tốt lành, cao quý nên biểu tượng này được nhiều tôn giáo cổ Ấn Độ dùng làm thụy tướng cho các vị thần của mình. Đến khi Phật giáo ra đời, Phật giáo đã hấp thụ nét tinh hoa truyền thống và phát triển nó lên thành biểu tượng đặc biệt của mình. Một sự gặp nhau ở tính chất tốt lành, may mắn, phước đức rộng sâu như biển, cao lớn như mây của biểu tượng này với tính chất từ bi, bác ái của đức Phật. Cho nên, người đời đã dành riêng biểu tượng này cho đức Phật. Vì vậy, hiện nay hễ nói đến biểu tượng này là người ta nghĩ ngay đến thụy tướng của đức Phật, biểu tượng của Phật giáo.

_________

Chú thích:

(1) (2) Hoà thượng Thích Thánh Nghiêm 2000: Phật học quán nghi. NXB Tôn giáo, tr. 323-327.

(3) Thích Phước Sơn 1999: Ý nghĩa biểu trưng của chữ Vạn. Nguyệt San Giác ngộ số 163, tr 52 - 53.

(4) Pháp Như Lý Lược Tam 1997: Về chữ Vạn trước ngực tướng Phật. Nguyệt san Giác Ngộ số 15, tr 27 – 28.

(5) (6) Bài giảng lớp cao học Văn hoá học của GS. Trần Ngọc Thêm.

(7) Hoà thượng Thích Thánh Nghiêm sđd, tr.325.

Nguồn: T/c Xưa&Nay, số 256, 3/2006, tr 36

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.