Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 06/10/2005 14:41 (GMT+7)

Tiến sĩ ‘lúa lai’

Nhớ lại 10 năm trước khi bắt tay vào nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai, anh Hoan và các cộng sự đã gặp không ít khó khăn: Cây lúa là cây lương thực truyền thống của dân tộc, có vị trí trọng yếu, song cũng có rất nhiều nhà khoa học, các cơ quan khác đã và đang nghiên cứu; vậy hướng đi trong chọn tạo giống lúa lai là gì? Hệ thống chọn giống lúa lai nào có ưu thế đối với nước ta? Quỹ gien phục vụ cho chọn tạo giống lúa lai còn rất nghèo nàn, cần thu thập từ đâu? Kinh phí cần cho nghiên cứu chọn giống lúa lai rất lớn, vậy giải quyết ra sao? Nhóm của anh đã tìm ra được hướng giải quyết có hiệu quả: Chọn các giống lúa lai hai dòng cực ngắn ngày, năng suất tích lũy cao, chất lượng tốt, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi. Kinh phí mà Bộ Giáo dục và Ðào tạo dành cho nghiên cứu khoa học ở các trường đại học của nước ta còn ít ỏi. Ðể giải bài toán này, phải kết hợp giữa nghiên cứu và sản xuất ra hạt giống bố, mẹ chất lượng cao phục vụ các công ty và bà con nông dân. Mặt khác, nhà trường có số lượng sinh viên không nhỏ chuyên ngành chọn giống cây trồng, đội ngũ luôn sẵn sàng công việc để học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ, đó là một thế mạnh mà không viện nghiên cứu nào có được.

Một ưu thế rất lớn khác đó là các cựu sinh viên của trường hiện đang công tác trên mọi miền đất nước. Họ đang giữ những vị trí trọng trách và luôn nhớ về trường, trân trọng các kết quả do trường tạo ra và sẵn sàng cộng tác vô tư, kể cả hỗ trợ kinh phí để triển khai giống mới vào sản xuất, nếu giống mới thật sự đáp ứng yêu cầu sản xuất tại địa phương. Cũng phải kể thêm đến phần hỗ trợ rất có hiệu quả của các chương trình hợp tác quốc tế: chương trình INGER và các chuyên gia Nhật Bản cung cấp các gien quý, chương trình JICA hỗ trợ kinh phí để xây dựng nhà lưới, mua sắm một số thiết bị tối thiểu, dự án DANIDA hỗ trợ về máy móc để nâng cao chất lượng sản xuất hạt giống bố mẹ lúa lai.

Sau 10 năm ròng rã, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, tiến hành các thực nghiệm khoa học trong điều kiện ít ỏi về kinh phí, eo hẹp về thời gian, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Văn Hoan đã đạt được một số kết quả, góp phần quyết định phát triển thương hiệu lúa lai Việt Nam .

Một là, tạo ra giống lúa lai hai dòng Việt Lai 20, nhanh chóng được xã hội chấp nhận và đưa vào sản xuất, đặc biệt là miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang... Hệ thống sản xuất hạt giống được thiết lập trên cơ sở hợp tác chặt chẽ giữa Trung tâm giống Lào Cai, Bộ môn di truyền-giống cây trồng và Công ty Dịch vụ kỹ thuật Nông nghiệp Hải Phòng. Chỉ sau một năm khảo nghiệm cơ bản, giống đã được Nhà nước cho khu vực hóa. Nhờ sự giúp đỡ của Dự án HAU-JICA-ERCB cùng sự hưởng ứng nhiệt thành của nông dân nên một năm sau (2004), giống đã được công nhận là giống quốc gia. Ðây là giống lúa lai quốc gia đầu tiên của Việt Nam và cũng là giống lúa lai ngắn ngày được nông dân chấp nhận nhanh nhất trong 30 năm qua.

Sự hấp dẫn của công nghệ nhân giống, sản xuất hạt giống F1 của Việt Lai 20 đã thu hút sự chú ý của nhiều công ty và trung tâm giống. Lần đầu tiên công nghệ lúa lai hai dòng đã bán được bản quyền trị giá 300 triệu đồng. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội nghị ứng dụng công nghệ cây trồng, chỉ tính riêng năm 2004 và vụ xuân 2005, giống Việt Lai 20 đã làm lợi cho nền sản xuất lúa nước ta hơn 15 tỷ đồng. Theo thông tin mới nhất từ Công ty Dịch vụ kỹ thuật Nông nghiệp Hải Phòng (đơn vị mua bản quyền giống Việt Lai 20) thì năm 2005, công ty đã sản xuất được hơn 1.000 tấn giống với giá thấp hơn giá nhập nội 10 triệu đồng/tấn, tiết kiệm được hơn 10 tỷ đồng so với nhập nội hạt giống. Số lượng hạt giống này đã được ký hợp đồng bao tiêu hết và đủ để gieo cấy trên diện tích 40.000 ha, hứa hẹn mang lại lợi nhuận cho nền sản xuất lúa nước nhà hơn 50 tỷ đồng ở năm 2006.

Hai là, phát triển hệ thống lúa lai hai dòng thế hệ mới với thời gian sinh trưởng cực ngắn, có khả năng kháng bệnh bạc lá, cho hàm lượng protein cao, chất lượng tốt. Các tổ hợp này có thể gieo cấy rất sớm, cho thu hoạch trong tháng 8 để dành quỹ thời gian hơn 6 tháng cho gieo trồng các cây vụ thu đông có giá trị kinh tế cao như cà chua sớm, dưa chuột bao tử..., góp phần phát triển cánh đồng đạt giá trị 50 triệu đồng/ha/năm ở đồng bằng và trung du Bắc bộ. Ba tổ hợp lúa lai mới mang tên Việt Lai 24, Việt Lai 27 và Việt Lai 36 được tạo ra, điển hình là giống Việt Lai 24 đã nhanh chóng được người sản xuất chấp nhận. Vụ xuân 2005, giống đã được gieo cấy thử trên 63 địa điểm của các tỉnh phía bắc và đều cho kết quả tốt, trong đó 3 tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc mở Hội nghị đầu bờ chính thức đánh giá để đưa vào cơ cấu gieo trồng ngay từ vụ mùa 2005. Nhiều hợp đồng triển khai công nghệ mới của giống Việt Lai 24 được ký kết, công tác nghiên cứu phát triển công nghệ đang được xúc tiến mạnh mẽ và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn giống Việt Lai 20.

Ba là, các kết quả chọn tạo, sản xuất hạt lai, thương mại hóa sản phẩm hạt lai F1, xây dựng hệ thống hoàn chỉnh từ chọn tạo - làm thuần - sản xuất hạt lai đến cung ứng hạt giống cho người sản xuất, đã góp phần tích cực quảng bá thương hiệu lúa lai Việt Nam. Từ năm 2004, trên thị trường trong nước đã có thêm sản phẩm lúa lai "made in Vietnam ". Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chính thức đưa trường ĐH Nông nghiệp 1 thành một trung tâm duy trì và sản xuất hạt giống bố mẹ lúa lai cung cấp cho cả nước. Bộ sẽ tiến hành một dự án quy mô lớn trị giá hơn 10 tỷ đồng nhằm xây dựng tại trường một cơ sở khang trang đủ sức đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, phát triển công nghệ và thương mại hóa lúa lai ở nước ta.

Ngoài kết quả trực tiếp chuyển giao công nghệ lúa lai hai dòng mới vào sản xuất, góp phần khẳng định thương hiệu lúa lai Việt Nam , nhóm tác giả còn phát hành một số ấn phẩm phục vụ cán bộ nghiên cứu, cán bộ nông nghiệp và đông đảo bà con nông dân. Cuốn “Kỹ thuật thâm canh lúa ở hộ nông dân” do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành lần đầu năm 1995 và liên tục được tái bản trong suốt 10 năm qua. Cuốn “Lúa lai và kỹ thuật thâm canh” đã được tái bản đến lần thứ 10, phục vụ rộng rãi tầng lớp nông dân mới quan tâm việc gieo trồng lúa lai. ‘Kỹ thuật thâm canh mạ” (NXB Nông nghiệp-Hà Nội 2002) và “Cây lúa và kỹ thuật thâm canh cao sản” do Viện Nghiên cứu phổ biến kiến thức Bách khoa xuất bản năm 2004, đã trở thành những cuốn sách hướng dẫn nghề trồng lúa được nông dân yêu thích. Tổng số lượng phát hành của các tài  liệu kể trên đã vượt qua con số 270.000 bản.


Nguồn: Khoa học & Phát triển 27/9/2005

Xem Thêm

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chiều 14/9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiến hành phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Hàng triệu dữ liệu khoa học, công nghệ quốc gia được chia sẻ chung trên một nền tảng
Hệ thống bước đầu hội tụ khối lượng lớn dữ liệu, gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; cùng hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ như sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng...
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt
Sáng ngày 11/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Lâm Đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Đại học Thủy lợi - Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Vĩnh Long: Trao 110 giải thưởng Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng
Sáng ngày 11/9/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Vĩnh Long, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ I (năm học 2025–2026) và chính thức phát động Cuộc thi lần thứ II. Hội nghị do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Tổ chức) phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện.
Gia Lai: Đẩy mạnh tham vấn chuyên sâu và giám sát liên ngành các hoạt động của PanNature
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN trực thuộc và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững, tỉnh Gia Lai ghi nhận chuỗi hoạt động quan trọng của Trung tâm Con người và Thiên nhiên: Từ Hội thảo tham vấn chuyên gia đa bên ngày 08/09/2026 đến đợt giám sát liên ngành thực địa của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong hai ngày 11 và 12/9/2026.
Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố: Phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ giải quyết các bài toán thực tiễn tại địa phương
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố thời gian qua ngày càng bám sát yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Thông qua tư vấn, phản biện chính sách, chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực, góp phần đưa tri thức khoa học vào đời sống, phục vụ phát triển KH-XH tại địa phương.