Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 23/11/2011 20:56 (GMT+7)

Tiềm năng ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long

Việc ứng dụng CNC đã góp phần quan trọng để phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tăng nhanh được năng suất cây trồng, vật nuôi với chất lượng cao, đồng đều và ổn định. Hiện tại, có hơn 23 quốc gia trên thế giới canh tác giống cây trồng mới (chuyển gen, biến đổi gen,... ), nhiều nhất là Mỹ, Achentina, Braxin, Canađa, Ấn Độ và Trung Quốc với diện tích khoảng 150 triệu ha. Trung Quốc đã tạo ra giống lúa cao sản (năng suất 12 tấn/ha) có mang gen kháng sâu bệnh, các giống cà chua năng suất 140 tấn tha, rau cải đỏ ngọt năng suất 60 tấn/ha,...

Hiện nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sản xuất hơn 1/2 lượng lúa (chiếm trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm), cung cấp khoảng 2/3 lượng trái cây, 1/3 lượng thủy sản đánh bắt và 2/3 lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước. Đây không những là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm của cả nước mà còn góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Do đóng góp gần 1/2 trong GDP nên ngành nông nghiệp hoàn toàn có thể chi phối nền kinh tế của toàn vùng. Nói cách khác, nếu ngành nông nghiệp của vùng chuyển biến theo hướng tích cực thì bộ mặt kinh tế - xã hội ở đây cũng sẽ trở nên sáng sủa hơn. Ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL là hướng đi đúng và cần thiết, tuy nhiên cần có những bước tiếp cận phù hợp.

Đánh giá tiềm năng ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL

a) Thuận lợi

Vùng ĐBSCL có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội rất thuận lợi để ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp.

ĐBSCL có phía Đông Bắc giáp vùng Đông Nam bộ (tốc độ phát triển kinh tế cao nhất cả nước), phía Tây Bắc giáp Campuchia (thị trường tiêu thụ nông sản đầy triển vọng), phía Tây Nam và Đông Nam giáp biển (giao thương hàng hải rất thuận lợi) là điều kiện rất tốt để có thể vươn ra các thị trường tiêu thụ rộng lớn.

Với gần 4 triệu ha đất canh tác bằng phẳng (trong đó phần lớn là đất phù sa được sông Cửu Long bồi đắp hàng năm), mạng lưới sông ngòi dày đặc, khí hậu ôn hòa,... nơi đây thích hợp cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt và thủy sản.

Nông dân trong vùng đã hình thành tập quán sản xuất nông nghiệp trong nhiều năm. Hiện tại, phần lớn nông dân ở đây là những người nhạy bén, chịu khó học hỏi, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất, trình độ canh tác tương đối cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước.

Các viện, trường, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trong vùng đã cung cấp nguồn nhân lực đảm bảo về chất lượng và số lượng, cùng với hạ tầng kỹ thuật tương đối hiện đại. Nguồn chất xám này sẵn sàng tham gia nghiên cứu khoa học, tư vấn cho các ngành chức năng trong việc hoạch định chính sách và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân trong sản xuất.

Mạng lưới doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp phân bố rộng khắp vùng. Doanh nhân rất nhạy bén với biến động của thị trường, có nhiều ý tưởng mới trong kinh doanh. Một số doanh nghiệp bước đầu đã tạo được tiếng vang trong và ngoài nước.

Các nhà chức trách luôn coi trọng và đặt lợi ích của nông dân lên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình. Nhờ đó, hệ thống pháp luật và các chủ trương của nhà nước ngày càng được thực thi sát với thực tế, được đông đảo người dân ủng hộ.

b) Khó khăn

Đất canh tác rộng và bằng phẳng nhưng do dân số đông nên diện tích đất canh tác trên đầu người nhỏ, manh mún. Đứng trước sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng, vùng được dự đoán sẽ trở thành một trong những đồng bằng bị ảnh hưởng nhiều nhất trên thế giới.

Lớp nông dân cũ có trình độ học vấn thấp, trong khi lớp nông dân mới cũng chưa cải thiện được nhiều. Điều này trực tiếp làm hạn chế khả năng tiếp cận các tiến bộ KH&CN hiện đại của nhà nông trong sản xuất.

Đội ngũ làm khoa học ở các viện trường đang đối mặt với nguy cơ lão hóa và mai một do chưa được bổ sung kịp thời. Nguyên nhân chính là nguồn nhân lực trẻ chưa được chú trọng đào tạo về đạo đức nghề nghiệp, chưa rèn luyện kỹ năng thực hành tốt và luôn bị hấp dẫn về phía khu vực tư nhân, đầu tư nước ngoài.

Khi có biến động của thị trường thì doanh nghiệp có thể bỏ qua lợi ích của nông dân để bảo vệ lợi ích của mình và ngược lại. Trong thời gian dài, mâu thuẫn về lợi ích của doanh nghiệp và nông dân vẫn tồn tại và chưa có dấu hiệu chuyển biến tích cực, mà nông dân đa phần là chịu thiệt.

Mặt dù có nhiều cố gắng, tuy nhiên nhà nước vẫn chưa hoạch định một cách căn cơ, có hệ thống, các giải pháp phát triển chưa đảm bảo được tính bền vững. Trong giải quyết tranh chấp khi có sự cố xảy ra, quyền lợi của nông dân vẫn chưa được đảm bảo hoặc biện pháp chế tài đối với doanh nghiệp chưa đủ mạnh để răn đe.

Bên cạnh đó, một số thuộc tính của nông nghiệp ứng dụng CNC vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Việc áp dụng CNC chưa tạo ra được các công nghệ mới tiên tiến phù hợp, đồng bộ. Nguyên nhân vì bộ tiêu chí chưa được xây dựng nhất quán, đối tượng áp dụng còn dàn trải, cơ sở vật chất của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, chi phí sản xuất cao, thiếu nhân lực CNC trong sản xuất nông nghiệp,... Và, quan trọng nhất là nông dân vẫn chưa thật sự sẵn sàng để tiếp thu và triển khai phương pháp sản xuất hiện đại này.

Đa số nông phẩm được sản xuất theo hướng ứng dụng CNC được tiêu thụ tại các siêu thị và chợ trung tâm, phục vụ cho tầng lớp trung lưu trở lên ở thành thị. Còn lại phần lớn người btiêu dùng ở nông thôn vẫn chưa thật sự mặn mà vì nhiều lý do khác nhau, mặc dù chúng đã được chứng nhận hẳn hoi.

c) Cơ hội

Hiện tại, chúng ta đã có những căn cứ pháp lý rất cụ thể để nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC đi vào thực tiễn. Điều này được thể hiện thông qua một loạt các văn bản: Luật KH&CN (09/6/2000); Chỉ thị 50 -CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (04/3/2005); Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X (09 -17/7/2008); và gần đây nhất là Luật Công nghệ cao (có hiệu lực ngày 01/7/2009).

Nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc phát triển, ứng dụng Công nghệ sinh học (CNSH) và đưa CNC vào sản xuất nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020" và đề án tổng thể "Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC từ nay đến năm 2020". Theo đó, Nhà nước sẽ ưu đãi, hỗ trợ phát triển nghiên cứu CNC trong nông nghiệp với mức cao nhất như vốn, thuế sử dụng đất, phí nhập khẩu một số CNC, máy móc, thiết bị CNC trong nông nghiệp để thực hiện một số dự án nghiên cứu ứng dụng. Đây được xem là nguồn động lực mạnh để các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân phát triển nông nghiệp CNC một cách phổ biến trong thời gian tới.

Khi được triển khai, mô hình ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp sẽ tạo ra môi trường thích hợp cho những sáng tạo KH&CN, đào tạo nhân lực (đặc biệt là lớp công nhân kỹ thuật nông nghiệp), thuận tiện cho sự chuyển hóa tri thức thành sức sản xuất, ưu thế thị trường và đem lại lợi ích tích cực cho ngành sản xuất nông nghiệp.

d) Thách thức

Thực tế cho thấy, nếu không ứng dụng CNC thì nông nghiệp nước ta khó để phát triển và có sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Gần đây, việc ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã và đang triển khai tại một số doanh nghiệp, địa phương như Hà Nội, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, TP. Hồ Chí Minh,... bước đầu mang lại hiệu quả.

Một số công nghệ tiên tiến đã được phát triển để phục vụ tốt cho sản xuất như công nghệ sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, Global GAP cho doanh thu rất cao (ớt ngọt đạt 1 tỷ đồng/ha/vụ, rau gia vị đạt 120 - 150 triệu đồng/ha/vụ,...). Tuy nhiên, việc ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn rất hạn chế về quy mô và chưa đủ sức để đáp ứng nhu cầu trong nước chứ chưa nói đến xuất khẩu.

Hiện nay, một loạt các vấn đề mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, thiên tai dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, quan hệ cung - cầu trong kinh tế hội nhập, đã đặt ngành nông nghiệp nước nhà đứng trước những thách thức mới, và ĐBSCL cũng không nằm ngoài bối cảnh đó. Diện tích đất canh tác đối mặt với nguy cơ bị thu hẹp, nhiễm mặn, tài nguyên lực trước ngày một cạn kiệt, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng do hệ lụy từ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa, thị trường trong và ngoài nước cạnh tranh khốc liệt, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ngày một chiếm tỉ trọng nặng trong nền kinh tế,... Tất cả những rào cản này buộc chúng ta phải nhanh chóng đề ra các giải pháp tổng thể để thích ứng với môi trường mới sớm nhất có thể.

Đề xuất hướng tiếp cận

Để CNC thực sự là đòn bẩy cho phát triển nông nghiệp thời gian tới, ông Nguyễn Tấn Hinh (Bộ NN&PTNT) đề nghị cần phải xây dựng quy hoạch tổng thể khu nông nghiệp ứng dụng CNC và vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, đẩy mạnh nghiên cứu tạo mới CNC trong nông nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trong đó, việc đào tạo nguồn nhân lực CNC nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của các tổ chức KH&CN, các doanh nghiệp và khu nông nghiệp ứng dụng CNC hết sức quan trọng.

Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục thực hiện "Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020" và đề án tổng thể "Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC từ nay đến năm 2020" là hết sức cần thiết, nhưng phải có bước đi và cách làm phù hợp. Để các thành tựu nghiên cứu sớm ứng dụng thành công vào đồng ruộng, Bộ NN&PTNT khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, địa phương tham gia vào chương trình; phối hợp với các đơn vị quản lý từ Trung ương đến địa phương và doanh nghiệp tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá các kết quả nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất,...

Ở cấp độ địa phương, các nhà quản lý phải thực hiện tốt khâu quy hoạch và quản lý quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC để khẳng định sự lựa chọn của mình trong cơ cấu phát triển kinh tế nói chung. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm về vốn, hỗ trợ pháp lý, có chính sách khuyến khích đúng thành phần tham gia, đối tượng áp dụng và sát thực tế trên địa bàn. Không được chạy theo phong trào, nặng về hình thức, chạy đua thành tích gây lãng phí. Nhà nước phải bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nông dân khi có tranh chấp với doanh nghiệp, đồng thời phải có biện pháp chế tài mạnh đủ sức răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật. Các nhà chức trách cần chú trọng hơn nữa trong việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, cân đối tỷ lệ giữa "thầy" và "thợ", đặc biệt là lớp công nhân nông nghiệp và nông dân mới.

Cùng với nhà nước, doanh nghiệp KH&CN và/hoặc doanh nghiệp thương mại bước đầu cần phải đầu tư vốn và hạ tầng kỹ thuật để tiếp nhận những công nghệ mới cũng như xây dựng các mô hình trình diễn ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp, đồng thời xây dựng thương hiệu cho mình. Sau đó là chuyển giao, hỗ trợ và hợp tác với nông dân (hợp tác xã, tổ liên kết sản xuất,...) để sản xuất đại trà. Khi đã có vùng nguyên liệu với sản lượng lớn và chất lượng cao đồng đều thì thương hiệu của doanh nghiệp cũng từng bước được gia cố và phát triển. Điều này có thể thực hiện được khi lợi ích của doanh nghiệp và nông dân được chia sẻ công bằng dưới sự giám sát của nhà chức trách hoặc trong một chừng mực nào đó, trình độ nhận thức của doanh nhân và nông dân là tương xứng với nhau.

Thực tế cho thấy, nhà nông là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong mối liên kết "4 nhà". Nông dân (đặc biệt là lớp nông dân mới) cần tranh thủ các chương trình trọng điểm của nhà nước để tự nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn để tiếp cận với tiến bộ KH&CN trong sản xuất; tự giác tháo bỏ lớp vỏ cố chấp, đố kỵ cố hữu để liên kết, hợp tác với nhau và với đối tác chặt chẽ hơn. Ngoài ra, nông dân còn phải học tập cách thức làm ăn mới và chuyên nghiệp để có cơ hội mở rộng quy mô sản xuất, tự trang bị kiến thức về pháp luật để bảo vệ mình trong tranh chấp quyền lợi với doanh nghiệp.

Góp sức với Nhà nước, các viện, trường, trung tâm cần biết tự làm mới trong phương pháp giảng dạy để đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, trình độ tổ chức nghiên cứu và triển khai thực nghiệm tốt để làm hạt nhân cho các các đề tài dự án, chương trình và mô hình ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp ở địa phương. Bên cạnh đó, các viện, trường, trung tâm (nhà khoa học) có thể liên kết với doanh nghiệp và tổ chức chính trị - xã hội hay hội nghề nghiệp để mở lớp dạy nghề, tập huấn kỹ thuật ngắn và dài hạn cho công nhân và nông dân trong sản xuất nông nghiệp.ô

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.