Thuốc Sorafenib: Một bước tiến quan trọng trong điều trị ung thư thận
Các biểu hiện lâm sàng của UTT bao gồm: đái ra máu, đau hông, khối u ở bụng, mệt, sụt cân, sốt, thiếu máu… Khối u thường được phát hiện tình cờ qua khám lâm sàng hay chụp X quang. Siêu âm, CT cùng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác và sinh thiết giúp phân biệt u lành với u ác cũng như nhận diện hệ mạch máu của khối u và phát hiện di căn (ở gan, xương...).
Nếu không ghi nhận di căn thì phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn quả thận được chỉ định, với tỷ lệ sống còn sau 5 năm thay đổi từ 70% (khối u cục bộ) đến 5% (khối u lan rộng ra xa). Ung thư di căn thường đề kháng với liệu pháp hormon cũng như hóa trị - chỉ một số ít ca khỏi bệnh sau khi cắt bỏ di căn đơn lẻ.
Nói chung, tiên lượng UTT cho tới nay không mấy khả quan. Nhưng tình hình sẽ được cải thiện với sự ra đời một thuốc kháng u mới: sorafenib, với tên biệt dược Nexavar (của hãng Bayer/Onyx).
ĐIỀU LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC: Người bệnh dùng sorafenib chung với warfarin cần được theo dõi (xét nghiệm và lâm sàng) định kỳ nhằm phát hiện các rối loạn đông máu. Huyết áp cần được kiểm tra hàng tuần trong sáu tháng đầu dùng sorafenib và quản lý trong suốt thời gian điều trị. Cần xem xét ngưng dùng sorafenib tạm thời hay vĩnh viễn ở các bệnh nhân bị thiếu máu tim và/hay nhồi máu cơ tim. Khi cần giảm liều lượng sorafenib, có thể dùng 400 mg mỗi ngày một lần. Nếu cần thiết, có thể giảm xuống còn một liều mỗi hai ngày. P.Q.V. |
Trong hơn một thập niên qua, đây là lần đầu tiên cơ quan FDA của Mỹ cho phép một thuốc trị UTT lưu hành (2006). Sorafenib được chỉ định cho điều trị carcinoma tế bào thận tiến triển. Theo BS. Ronald Bukowsky của Trung tâm ung thư lâm sàng Taussig ở Ohio (Cleveland), sorafenib là thuốc (uống) ức chế multikinase đầu tiên, nhắm vào các kinase của serin/threonin và tyrosin thụ thể trong cả tế bào ung thư và hệ mạch máu của khối u (các kinase này liên hệ đến sự sinh sôi tế bào cũng như tiến trình sinh mạch của khối u).
Theo nhà sản xuất, sự phê chuẩn sorafenib được căn cứ vào các dữ liệu từ cuộc thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn nhất từ trước tới nay tiến hành trên các bệnh nhân bị carcinoma tế bào thận. So với giả dược, sorafenib làm tăng gấp đôi thời gian sống còn không tiến triển bệnh. Một phân tích sơ bộ cho thấy thuốc làm giảm 28% nguy cơ tử vong.
Các nhà sản xuất cho biết các tác dụng phụ hệ trọng (như phản ứng da nặng, tai biến tim mạch…) hiếm khi xảy ra (dưới 5%). Các tác dụng phụ thường gặp nhất là: tiêu chảy, phát ban/ tróc vẩy, mệt, nổi bóng nước trên lòng bàn tay và lòng bàn chân, rụng tóc, buồn nôn, ngứa, ói mửa và chán ăn. Người bệnh cần thận trọng khi dùng chung sorafenib với warfarin, doxorubin, irinotecan và các chất tương tự, cũng như trong trường hợp có tổn thương gan, thận nặng.
Sorafenib cũng có tiềm năng gây độc cho thai, vì thế nên có biện pháp ngừa thai cho cả nam và nữ trong lúc điều trị và ít nhất hai tháng sau khi ngưng thuốc. Phụ nữ đang dùng thuốc cũng được khuyến cáo không cho con bú sữa mẹ.
Liều sorafenib thuờng dùng là 400 mg (2 viên 200 mg), hai lần mỗi ngày. Không dùng thuốc chung với bữa ăn (trong vòng ít nhất 1 giờ trước khi ăn và 2 giờ sau khi ăn).
Sorafenib cũng đang được thử nghiệm cho việc điều trị carcinoma tế bào gan tiến triển, u hắc tố (ung thư da) di căn và ung thư phổi không-tế bào-nhỏ...








