Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 15/03/2012 21:29 (GMT+7)

Thực trạng và giải pháp phát triển rau an toàn ở Thừa Thiên Huế

Đến nay, đã có nhiều chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) được ứng dụng trong sản xuất rau, song hiệu quả vẫn còn rất hạn chế và đôi khi tính khả thi không thực sự cao đối với nông dân khi triển khai trên diện rộng. Để đối phó với sâu, bệnh hại, bảo vệ sản xuất và tăng lợi nhuận, người nông dân vẫn chủ yếu dựa vào biện pháp sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật và những chất kích thích sinh trưởng không rõ nguồn gốc. Biện pháp này không chỉ ảnh hưởng đến người sản xuất, đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng, và sự phát triển du lịch, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.

Để tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp nói chung và trong lĩnh vực trồng trọt nói riêng phát triển bền vững, bảo vệ môi truờng sinh thái, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, an toàn phục vụ cho người dân và du khách, nâng giá trị và hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao động, việc phát triển rau an toàn là một yêu cầu cần thiết.

Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm văn hoá, du lịch của cả nước. Hàng năm trên địa bàn tỉnh  đón nhiều  khách du lịch trong nước và quốc tế, hàng vạn sinh viên các tỉnh về cư trú học tập. Công nghiệp của tỉnh đang trên đà phát triển mạnh, nhiều khu công nghiệp đang được xây dựng, nhiều đô thị mới sẽ được hình thành. Do đó nhu cầu các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, an toàn  phục vụ cho đời sống ngày càng tăng.

* Tình hình sản xuất rau an toàn ở Thừa thiên Huế :

Toàn tỉnh có diện tích sản xuất rau trên 3200 ha, song phân bố không đều, manh mún, nhỏ lẻ mang tính thời vụ, tự cung tự cấp. Chỉ có một số vùng trồng tập trung, chuyên canh chủ yếu ở thành phố Huế và một số xã vùng ven như Quảng Thành, Quảng Thọ - huyện Quảng Điền, Hương An, Hương Xuân, Hương Chữ -huyện Hương Trà, Phú Mậu - huyện Phú Vang,...

Năm 2009, thông qua một số các đề tài, dự án, chương trình của Trung tâm Khuyến Nông Lâm Ngư, của trường Đại học Nông Lâm Huế, và một số tổ chức khác, một số mô hình sản xuất rau an toàn đã được triển khai tại các địa phương  như: HTX Hương Long - TP Huế ( 0,5ha), HTX Kim Thành - Quảng Thành (1,1 ha),  HTX La Chữ -Hương Trà (1 ha),…

- Từ năm 2009 đến nay, các dự án được ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh Thừa Thiên Huế đầu tư hỗ trợ như dự án nông thôn miền núi cấp nhà nước ủy quyền địa phương quản lý “Xây dựng mô hình ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học để tổ chức sản xuất rau an toàn theo hướng VietGAP tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quảng Điền chủ trì thực hiện với diện tích 3,4 ha; 6 loại rau: cải xanh, xà lách, cải cúc, rau thơm, rau má và mướp đắng, được thực hiện tại 2 xã Quảng Thành và Quảng Thọ; dự án khoa học công nghệ “Hỗ trợ phát triển rau an toàn” do truờng Đại học Nông Lâm Huế chủ trì với quy mô diện tích là 2,4208 ha thực hiện tại các HTX Hương Long và Hương An. Đến nay đã cho một số kết quả khả quan.

- Tính đến nay đã có 5 đơn vị được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy đủ điều kiện sản xuất kinh doanh rau quả an toàn, cụ thể như sau:

Đơn vị

DT (ha)

Chủng loại rau quả

Số QĐ-ngày

HTX Kim Thành, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền

1,6

Cải xanh, Cải cúc, Xà lách, Rau thơm

577/ QĐ-NNPTNT ngày 11/8/2010

HTX Quảng Thọ 2, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền

1,8

Rau má, Mướp đắng

576/ QĐ-NNPTNT ngày 11/8/2010

HTX Hương An, xã Hương An, huyện Hương Trà

0,9893

Rau cải, hành lá, xà lách, kiệu, rau thơm

737/ QĐ-NNPTNT ngày 7/10/2010

HTX Hương Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà

1,075

Xà lách, hành hoa, kiệu, dền đỏ, rau thơm...

05/ QĐ-NNPTNT ngày 06/01/2010

HTX Hương Long, TP Huế

1,4315

Rau cải, hành lá, xà lách, kiệu, nưa, paro

768/QĐ-NNPTNT ngày 03/12/2010

Tổng cộng

6,8958 ha

(Nguồn Sở NN &PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế)

- Sở NN & PTNT đã chỉ định Trung tâm Khuyến Nông Lâm Ngư tỉnh là tổ chức thực hiện chứng nhận VietGAP cho rau, quả an toàn trên địa bàn tỉnh (Quyết định số 668/QĐ-NN&PTNT ngày 11 tháng 9 năm 2010) ,hoàn thiện thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn cho các địa phương.

Nhìn chung, tình hình sản xuất rau an toàn vẫn còn dừng lại ở mức độ sản xuất thử nghiệm với quy mô nhỏ, thị trường tiêu thụ rau an toàn chưa nhiều. Các đơn vị sản xuất mới chỉ thực hiện đăng ký đủ điều kiện sản xuất, chưa có đơn vị nào công bố sản phẩm rau quả sản xuất được áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn theo Quyết định số 379/QĐ/BNN-KHCN ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT.

Tuy vậy, có một số đơn vị đã có nhiều cố gắng trong bảo quản, sơ chế, tiếp thị quảng cáo và cho ra được những sản phẩm có chất lượng như Doanh nghiệp tư nhân Rau an toàn Hóa Châu thu mua ở nông dân và sơ chế cung cấp cho các siêu thị như: Siêu thị Thuận Thành 1, Siêu thị Thuận Thành 2, Siêu thị Tràng Tiền (COOP MARK Huế), Siêu thị Big C.

* Cơ sở khoa học và thực tiễn

- Quy hoạch chuyển đổi rau an toàn là chuyển đổi kỹ thuật canh tác, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới để sản xuất được các loại rau quả có dư lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc BVTV dưới ngưỡng quy định để không gây ra nguy hiểm cho sức khoẻ con người. Bởi vậy, quy hoạch này không làm  thay đổi hiện trạng sử dụng đất  nông nghiệp.

- Nhiều thành tựu khoa học trong sản xuất, chế biến, bảo quản được ứng dụng là cơ hội để phát triển như các giống rau cao cấp, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp trên rau màu; các sản phẩm của công nghệ sinh học như phân bón sinh học, thuốc trừ sâu sinh học; công nghệ bảo quản, chế biến, công nghệ phân tích nhanh dư lượng thuốc BVTV trên rau...

- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế yêu cầu các sản phẩm nông nghiệp phải được nâng cao về chất lượng. Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội để thực hiện quy hoạch sản xuất. Sản phẩm rau an toàn đang ngày càng có nhu cầu lớn cho tiêu dùng trong bữa ăn hàng ngày khi mà chất lượng cuộc sống đang ngày được nâng cao, sự cân đối dinh dưỡng trong bữa ăn đang được nhiều ngưòi quan tâm để bảo vệ cho sức khoẻ của họ.

- Điều kiện khí hậu, thời tiết tại Thừa Thiên Huế tuy có những bất lợi nhất định, song cơ bản vẫn thuận lợi  cho các loại rau sinh trưởng phát triển tốt.

- Nông dân có tập quán trồng rau, màu từ xưa đến nay, họ có nhiều kinh nghiệm có chuyển biến về nhận thức trong sản xuất nông nghiệp, có khả năng tiếp thu chuyển giao công nghệ.

* Những lợi thế và tồn tại trong sản xuất rau an toàn ở Thừa thiên Huế

Những lợi thế:

- Là trung tâm văn hoá du lịch của miền Trung và của cả nước, dân số đông, lượng khách du lịch hàng năm lớn. Với nhu cầu sử dụng thực phẩm cho đời sồng ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng chứng tỏ tiềm năng rất lớn về thị trường tiêu thụ của các sản phẩm rau, đặc biệt là các sản phẩm có chất lượng cao, an toàn trong hiện tại cũng như trong thời gian tới.

- Có nhiều cơ quan nghiên cứu, đào tạo đóng trên địa bàn (các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật). đây là điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

- Nhiều chương trình, dự án đã và đang đầu tư đáng kể cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.

- Cơ hội tiếp cận thông tin tại nông thôn được tăng cường và mở rộng đã tạo điều kiện cho nhận thức của nông dân chuyển biến đáng kể, tập quán sản xuất tự cung, tự cấp đang chuyển dần sang sản xuất hàng hoá, nâng cao giá trị và hiệu quả.

Những hạn chế, tồn tại:

- Diện tích sản xuất rau của từng hộ nông dân phân tán, manh mún, năng suất rau còn thấp, chưa xứng với tiềm năng đất đai.Chất lượng rau vẫn chưa được theo dõi kiểm định đánh giá theo các tiêu chuẩn quy định.

- Thiếu cơ sở chế biến, thông tin thị trường còn thiếu và yếu, chưa hình thành được hệ thống tiêu thụ sản phẩm ổn định  phục vụ người sản xuất.

- Việc sơ chế, bảo quản rau  để cung cấp cho thị trường chưa được quan tâm nên ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm khi tiêu thụ.

- Sản phẩm  kém đa dạng về chủng loại nên chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, giá cả  bấp bênh, không chủ động trong tiêu thụ sản phẩm. 

- Điều kiện thời tiết khí hậu có hai mùa mưa nắng rõ rệt, đặc biệt có mùa mưa với lượng mưa lớn rất khó khăn cho việc bố trí  đa dạng thành phần các loại rau quả, củ. Trong các mùa thuận lợi như xuân hè chỉ thuận lợi để phát triển một số loại rau ăn lá, rau gia vị...Đây cũng là trở ngại rất lớn trong việc tiếp cận các thị trường lớn.

- Năng suất, sản lượng rau còn thấp và không ổn định. Nguyên nhân do nông dân sử dụng giống tại chỗ, mua giống không đảm bảo chất lượng, mặt khác sản xuất trong mùa nắng hạn thường thiếu nước và thiếu vật liệu che phủ nên rau sinh trưởng và phát triển kém dẫn đến năng suất thấp. Chất lượng rau vẫn chưa được theo dõi kiểm định đánh giá theo các tiêu chuẩn quy định.

* Đề xuất giải pháp 

Giải pháp về chính sách:

- Thực hiện rà soát, đánh giá hiệu quả quá trình thực hiện chương trình quy hoạch chuyển đổi cây rau an toàn giai đoạn 2006 - 2010 và xây dựng quy hoạch phát triển đến năm 2020.

  - Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, tạo cơ chế thông thoáng thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rau an toàn .

- Ngân sách Nhà nước hổ trợ cho công tác điều tra cơ bản xác định vùng sản xuất, xây dựng cải tạo cơ sở hạ tầng, kho bảo quản, xúc tiến thị trường, chợ bán buôn, chứng nhận đủ điều kiện sản xuất an toàn.

- Tập trung đầu tư có trọng điểm vào các vùng trồng rau truyền thống, có điều kiện thuận tiện về cơ sở hạ tầng, đủ điều kiện để sản xuất rau an toàn, thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm.

- Hỗ trợ việc cấp chứng nhận ViêtGAP cho sản phẩm rau an toàn ở những địa phương đủ điều kiện.

- Hỗ trợ nông dân trong bảo quản bằng việc đầu tư công nghệ sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm, khuyến khích áp dụng quy chuẩn QCVN 01-09 : 2009/BNNPTNT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cơ sở chế biến rau quả - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm).

Các giải pháp về kỹ thuật, khoa học và khuyến nông :

 - Tổ chức chuyển giao ứng dụng công nghệ sản xuất giống rau, tăng cường công tác quản lý chất lượng giống  đối với các cơ sở sản xuất và kinh doanh giống rau  trên địa bàn.

  - Tập trung xây dựng hoàn chỉnh quy trình sản xuất cho từng chủng loại rau, đặc biệt là các loại rau có khả năng tiêu thụ và thích ứng cao với điều kiện tự nhiên của địa phương.

  - Tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật công nghệ  sản xuất rau an toàn (đặc biệt hướng dẫn và quản lý chặt chẻ việc thực hiện các biện pháp canh tác có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng rau như chủng loại và số lượng phân bón, loại thuốc BVTV sử dụng, thời gian cách ly, nguồn nước sử dụng...) và chỉ đạo thực hiện đúng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), quản lý tốt chất lượng sản phẩm đưa ra thị trường.

- Tăng cường ứng dụng các chế phẩm sinh học trong chăm bón và phòng trừ sâu bệnh cho rau đã được Bộ NN & PTNT cho phép sử dụng.

- Nghiên cứu toàn diện về điều kiện sinh trưởng phát triển các loại rau, cần nghiên cứu các yếu tố can thiệp để đưa các giải pháp đầu tư cho việc trồng rau trái vụ bằng công nghệ làm nhà lưới, phun mưa, tưới nhỏ giọt và những vấn đề kỹ thuật khác... để xác định được hiệu quả kinh tế của các loại rau trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu và ban hành quy trình áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp để hạn chế sâu bệnh cho các  loại rau, đặc biệt khuyến cáo sử dụng thiên địch, các loại thuốc thảo mộc, thuốc có độ độc thấp nằm trong danh mục được phép sử dụng cho rau quả.

- Xác định, khuyến cáo và chuyển giao quy trình, tiến bộ kỹ thuật, biện pháp canh tác, công nghệ sau thu hoạch ...có tính thực tiễn cao với địa phương bằng nhiều hình thức như: Xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn đào tạo, các tờ rơi, tài liệu phát tay, các chương trình, các chuyên mục trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Tập huấn chuyển giao công nghệ sau thu hoạch,  nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm, kéo dài thời gian kinh doanh sau thu hoạch.

Các giải pháp hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm:

- Xây dựng các kênh thông tin trực tiếp qua hoạt động của hệ thống khuyến nông, các tổ chức đoàn thể, các HTX, …về sản xuất  và các sản phẩm rau an toàn trên địa bàn tỉnh.

- Hỗ trợ việc xây dựng và quảng bá  thương hiệu hàng hoá cho các sản phẩm rau an toàn bằng cách in ấn các panô, áp phích, tờ rơi … phối hợp với các cơ quan truyền thông sản xuất các tin, bài, phóng sự …phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng.

-Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, tiếp tục hỗ trợ Doanh nghiệp tư nhân Rau an toàn Hoá Châu quảng bá, tiêu thụ sản phẩm rau an toàn.

Công tác quản lý nhà nước :

- Xây dựng, ban hành các văn bản quản lý sản xuất, kinh doanh rau tại địa phương trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước về sản xuất, kinh doanh sử dụng rau an toàn và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương

-Tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền phổ biến kiến thức quản lý nhà nước về lĩnh vực rau quả an toàn đến các thành phần liên quan nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sử dụng và đảm bảo thực hiện đúng các quy định đã ban hành.

  -Tăng cường công tác thanh kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý chất lượng giống, vật tư hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón ... trong sản xuất rau, sử dụng rau an toàn nhằm đảm bảo sản phẩm rau xanh cung ứng cho thị trường đạt chất lượng theo các tiêu chuẩn quy định để bảo vệ lợi ích và sức khoẻ cho người nông dân, người tiêu dùng và toàn thể cộng đồng.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).