Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 16/12/2014 13:00 (GMT+7)

Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường

Sau gần 20 năm là cơ quan đầu mối kế hoạch cho các Hội thành viên, đơn vị khoa học và công nghệ trực thuộc, đến nay cơ cấu kinh phí về nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường của Liên hiệp Hội Việt Nam đã duy trì ổn định, trở thành những nguồn kinh phí thường xuyên của cơ quan, mặc dù không nhiều nhưng cũng một phần giúp các Hội thành viên, đơn vị trực thuộc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế.

Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường

Theo TS Trần Việt Hùng – Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam cho biết, các đề tài, dự án có sử dụng ngân sách nhà nước do cơ quan Trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam quản lý có từ 3 nguồn chính là: Sự nghiệp khoa học, sự nghiệp bảo vệ môi trường và sự nghiệp kinh tế. Trong đó, nhiều nhất phải kể đến sự nghiệp khoa học cấp cho các đề tài cấp nhà nước và các đề tài cấp bộ (cấp LHHVN).

Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp nhà nước được Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho các Hội thành viên, đơn vị trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam bắt đầu từ năm 2004. Việc cơ quan quản lý nhà nước giao cho các Hội thành thành viên và đơn vị Khoa học và Công nghệ trực thuộc của Liên hiệp Hội Việt Nam thực hiện các đề tài độc lập cấp nhà nước, dự án sản xuất thử nghiệm, các đề tài nghiên cứu cơ bản và nghị định thư cấp nhà nước thể hiện sự bình đẳng tương đối trong nghiên cứu khoa học, đồng thời khẳng định năng lực của các đơn vị khoa học và công nghệ trực thuộc và các thành viên của Liên hiệp Hội Việt Nam.

TS Hùng cho biết thêm, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng chú trọng triển khai các đề tài có thể giải quyết được các vấn đề cấp bách của địa phương cũng như của ngành như nhóm đề tài liên quan đến bệnh cây cà phê, cây chè tại Tây Nguyên, nuôi cánh kiến, chọn tạo giống thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao và cơ giới hoá nông nghiệp, nông thôn.

Bên cạnh đó Liên hiệp Hội Việt Nam cũng hỗ trợ để thử nghiệm các mô hình phát triển kinh tế theo đặc thù từng địa phương như các mô hình trồng cỏ phục vụ chăn nuôi vùng hoang hoá, mô hình nuôi gia cầm và nuôi cá trên vùng đất cát, đồng thời kết hợp với các nhiệm vụ chọn tạo giống hoặc hỗ trợ bảo tồn những giống bản địa phục vụ phát triển bền vững.

Ngoài ra, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng quan tâm đến nhóm đối tượng nghiên cứu về môi trường và biến đổi khí hậu nên đã hỗ trợ thực hiện các đề tài/dự án liên quan đến xử lý ô nhiễm đất, xử lý nước thải tại một số làng nghề, giải pháp kiến trúc-quy hoạch nhà ở nông thôn vùng bị biến đổi khí hậu, tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong chương trình giáo dục, nghiên cứu giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu ở một số tỉnh ven biển...

Về hoạt động bảo vệ môi trường, theo TS Hùng chia sẻ, với lượng kinh phí hạn chế nhưng Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với nội dung Nghị quyết liên tịch đã ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó tập trung vào một số vấn đề:

Thứ nhất là hỗ trợ xây dựng các công trình bảo vệ môi trường và trạm quan trắc môi trường: Nhiệm vụ này Liên hiệp hội Việt Nam không được giao do đó không có hoạt động riêng về vấn đề này được thực hiện. Tuy nhiên việc hỗ trợ xây dựng các công trình bảo vệ môi trường tại cộng đồng đã được lồng ghép trong nội dung của một số dự án xây dựng mô hình như hỗ trợ người dân vùng trũng xây dựng mô hình xử lý nước nhiễm asen, mô hình cung cấp nước sinh hoạt, mô hình xử lý nước thải làng nghề, cải tạo đất...

Thứ hai là việc xử lý ô nhiễm môi trường là một vấn đề khoa học công nghệ, đòi hỏi phải được đầu tư lớn về kinh phí. Trong khuôn khổ mức ngân sách sự nghiệp môi trường được cấp quá thấp nên Liên hiệp Hội Việt Nam không thể thực hiện được các dự án xử lý ô nhiễm môi trường riêng có quy mô lớn mà chỉ có thể lồng ghép vấn đề này trong các dự án nhỏ liên quan đến chuyển giao công nghệ môi trường cho cộng đồng.

Thứ ba là điều tra, xây dựng mô hình bảo vệ môi trường: Mặc dù kinh phí khá hạn chế, tuy nhiên Liên hiệp Hội Việt Nam đã bám sát nội dung phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và bố trí triển khai 03 mô hình bảo vệ môi trường tại địa phương và 06 dự án điều tra tài nguyên-môi trường.

Thứ tư là đào tạo, tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức về môi trường: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân do đó việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng là một hoạt động quan trọng của Liên hiêp hội Việt Nam. Trong giai đoạn 2010-2014, Liên hiệp hội Việt Nam đã thực hiện 6 dự án liên quan đến nâng cao nhận thức về môi trường cho người dân và các tổ chức liên quan như sau:

Thứ năm là với chức năng tư vấn phản biện và giám định xã hội do Chính phủ giao, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng đã chú trọng và thúc đẩy các dự án tư vấn phản biện các vấn đề môi trường và chính sách bảo vệ môi trường. Trong số đó phải kể đến một số hoạt động nổi bật như tư vấn về chính sách tài chính cho việc xử lý rác thải đô thị, chính sách quản lý và vận hành quỹ bảo vệ môi trường, chính sách giám sát môi trường cộng động và đặc biệt là đã tư vấn góp ý cho Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường, những góp ý này của Liên hiệp Hội Việt đã được đánh giá cao.

Bên cạnh các dự án bảo vệ môi trường, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng đã huy động nguồn kinh phí từ sự nghiệp kinh tế do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý, từ nguồn kinh phí này, Liên hiệp Hội Việt Nam đã hỗ trợ các đơn vị thực hiện 14 dự án điều tra cơ bản quy mô nhỏ và trung bình với tổng kinh phí là 7.050 triệu đồng trong giai đoạn 2010-2014

Trong 5 năm qua, Liên hiệp Hội Việt Nam tập trung phần lớn nguồn vốn được cấp vào việc điều tài nguyên và môi trường, số các dự án trong lĩnh vực này chiếm trên 70% tổng số dự án. Các vấn đề được điều tra bao gồm các tài nguyên sinh học (cây, con), các yếu tố môi trường (đất, nước, không khí) các nguy cơ và sự cố môi trường như nứt, động đất, trượt, lở đất. Địa điểm điều tra phần lớn tập trung ở các vùng có nhiều tài nguyên và sự cố môi trường như vùng tây bắc, trung du bắc bộ, trung và nam trung bộ. Các kết quả điều tra trong lĩnh vực này đã cung cấp các cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác dự báo và cảnh báo các sự cố môi trường ở các khu vực có nguy cơ như đập thuỷ điện, hồ chứa nước, và là cơ sở cho việc hoạch định các kế hoạch và dự án đầu tư ở địa phương.

Tuy nhiên, theo TS Hùng, mặc dù các Hội Khoa học và Kỹ thuật chuyên ngành toàn quốc không có điều kiện về biên chế và kinh phí nhưng các hoạt động khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường rất phong phú và có chất lượng tốt, thu hút sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học.

Theo số liệu thống kê của 38 Hội Khoa học và Kỹ thuật chuyên ngành toàn quốc, trong giai đoạn 2010-2014, các Hội đã thực hiện khoảng 40 đề tài với quy mô khác nhau với tổng kinh phí khoảng 22.587 triệu đồng, một số tổ chức còn có các hợp đồng thực hiện dịch vụ về khoa học và công nghệ và môi trường như Hội Các phòng thử nghiệm Việt Nam, một số thành viên của Tổng Hội xây dựng Việt Nam và Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam. Ngoài việc thực hiện các đề tài/dự án, các Hội Khoa học và Kỹ thuật chuyên ngành và các Liên hiệp Hội tỉnh/thành phố còn tổ chức hàng trăm hội thảo, hội nghị khoa học ở các mức độ khác nhau, nhiều nhất là Hội Khoa học Lịch sử với 23 hội thảo, hội nghị.

Đặc biệt có những hội thảo, hội nghị khoa học của các Hội Khoa học và Kỹ thuật chuyên ngành được tổ chức định kỳ hàng năm ở cấp độ quốc gia như Hội nghị Cơ học thuỷ khí toàn quốc của Hội Cơ học Việt Nam, Hội nghị Tự động hóa và Điều khiển toàn quốc của Hội Tự động hoá Việt Nam và nhiều hội nghị khoa học quốc tế có uy tín lớn như các Hội thảo quốc tế của Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị VN, Hội nghị quốc tế về Khoa học Vật liệu và Công nghệ Nano và Hội nghị quốc tế về Photonics do Hội Vật lý Việt Nam tổ chức, Hội nghị quốc tế Công nghệ cao về điện tử-truyền thông và các lĩnh vực liên quan của Hội Vô tuyến điện tử Việt Nam tổ chức hàng năm thu hút được hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước tham dự...Những hoạt động này cho thấy, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng các Hội Khoa học và Kỹ thuật chuyên ngành đã có những tác động tích cực đến công tác tập hợp trí thức khoa học và công nghệ góp phần vào sự phát triển của khoa học và công nghệ nước nhà.

Một số nguyên nhân của công tác nghiên cứu khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường

Một trong những nguyên nhân, theo TS Hùng đó là các Hội Khoa học và Kỹ thuật chuyên ngành có tiềm lực chuyên gia mạnh, có thể huy động được những nhà khoa học đầu ngành tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc tổ chức các hội nghị, hội thảo lớn, có chất lượng tuy nhiên việc vận động kinh phí để thực hiện những hoạt động này rất khó khăn.

Tiếp đến là các Liên hiệp hội tỉnh/thành phố có điều kiện tốt hơn về biên chế so với các Hội Khoa học và Kỹ thuật chuyên ngành và được hỗ trợ kinh phí thường xuyên từ UBND nhưng việc tìm được các chuyên gia giỏi để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sâu thường gặp khó khăn.

Nghị quyết Đại hội VI đã định hướng rõ là Liên hiệp Hội Việt Nam sẽ thực hiện một số chương trình, dự án lớn, đặc biệt tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên trong thực tế, vì kinh phí cấp cho Liên hiệp Hội Việt Nam rất thấp nên trong giai đoạn 2010-2014, Liên hiệp Hội Việt Nam mới chỉ thực hiện được 01 đề tài khoa học và chuyển giao công nghệ có quy mô kinh phí ở mức khá đó là đề tài “Nghiên cứu mô hình nông thôn mới cấp xã vùng đồng bằng sông Hồng” được triển khai trong 2 năm 2013-2014 với kinh phí 5.3 tỷ đồng, trong đó kinh phí từ Liên hiệp Hội Việt Nam là 4 tỷ đồng, kinh phí đối ứng từ địa phương là 1.3 tỷ đồng.

Ngoài ra, các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và dự án bảo vệ môi trường của Liên hiệp Hội Việt Nam phần lớn là các hoạt động quy mô nhỏ do đó phạm vi ảnh hưởng và tác động đến xã hội còn hạn chế.

Việc thanh quyết toán kinh phí còn chậm chễ do năng lực kế toán của của các tổ chức khoa học còn hạn chế. Đây cũng là một phần nguyên nhân làm cho các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự tin tưởng để giao cho Liên hiệp Hội Việt Nam là cơ quan chủ quản các đề tài, dự án, chương trình có quy mô lớn. Thực tế này đã xảy ra khi trong năm 2014, Liên hiệp Hội Việt Nam đã không mở mới được bất kỳ đề tài, dự án cấp nhà nước nào.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.