Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 19/07/2010 07:00 (GMT+7)

Thử nghiệm khí biogas trên động cơ xe gắn máy

1. Tổng quan

Nghiên cứu sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là từ sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng dầu mỏ năm 1973. Cuộc khủng hoảng sau đó được khắc phục, tuy nhiên nguy cơ của nó vẫn luôn rập rình. Những năm gần đây, giá dầu thô liên tục gia tăng, có lúc đã vượt ngưỡng 70USD/thùng trong năm 2006. Mặc dù các nước xuất khẩu dầu mỏ đã sử dụng hết công suất hiện có để sản xuất nhưng cũng rất khó khăn mới có thể làm hạ nhiệt cơn sốt giá dầu thô. Với mức khai thác như hiện nay, trữ lượng dầu thô trong lòng đất sẽ cạn kiệt trong tương lai không xa. Việc chuyển dần sang sử dụng các loại nhiên liệu không truyền thống đã trở thành chiến lược trong chính sách năng lượng của nhiều quốc gia phát triển.

Sự gia tăng các nồng độ các chất ô nhiễm trong bầu khí quyển kể từ khi nhân loại bước vào thời kỳ công nghiệp đã đặt ra những vấn đề hết bức xúc về môi trường. Thủ phạm chính gây ra các chất ô nhiễm trong bầu không khí là sản phẩm cháy của nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt...). Trong khí thải có những chất trực tiếp gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người như CO, HC, NO x, SO 2, bồ hóng... và những chất gây tác động xấu đến môi trường, đặc biệt là CO 2, chất khí gây hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ trái đất. Nhiều hội nghị cấp cao quốc tế và khu vực đã bàn giải pháp giảm thiểu CO 2trong sản xuất và đời sống và người ta đã đạt được những thỏa thuận quan trọng trong các công ước quốc tế Kyoto, LaHaye và Việt Nam cũng đã cam kết thực hiện. Theo các Công ước này các quốc gia cần áp dụng các giải pháp rút giảm mức độ phát thải CO 2bằng cách nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, sử dụng các nguồn năng lượng sạch, sử dụng năng lượng tái sinh. Năng lượng tái sinh có nguồn gốc từ năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng lý tưởng nhất.

Cũng như dầu thực vật, khí biogas là nhiên liệu trung hòa CO 2trong khí quyển. Biogas là kết quả phân hủy các chất hữu cơ trong môi trường thiếu không khí. Các chất hữu cơ (cây cối, rơm rạ, xác sinh vật, các chất thải từ quá trình chế biến thực phẩm...), các chất thải từ quá trình chăn nuôi... Biogas chứa chủ yếu methane (50-70%) và CO 2(25-50%) và các tạp chất khác như H 2S. CH 4được mệnh danh là nhiên liệu “sạch”, có nhiệt trị cao. 1m 3CH 4khi cháy tỏa ra một nhiệt lượng tương đương với 1,3kg than đá, 1,15 lít xăng, 1,7 lít cồn hay 9,7kwh điện. Nếu sử dụng biogas làm nhiên liệu, 1m 3khí biogas có thể cung cấp cho động cơ 1 sức ngựa chạy trong 2 giờ. Vì vậy nếu khí biogas được lọc sạch các tạp chất thì chúng sẽ là nguồn nhiên liệu thay thế rất lý tưởng để chạy động cơ đốt trong trên cơ sở các thành tựu đã đạt được về động cơ sử dụng nhiên liệu khí.

Phong trào xây dựng các hầm khi biogas qui mô gia đình và ở các hộ chăn nuôi gia súc ở nước ta cũng đã được phát triển. Khí biogas hiện nay chủ yếu được dùng để thay thế chất đốt. Kết quả đem lại rất tích cực cả về hiệu quả kinh tế lẫn bảo vệ môi trường. Nguồn khí biogas nhận được từ các hầm khí sinh học đã cung cấp năng lượng phục vụ việc đun nấu, do đó hiện tượng chặt phá rừng làm chất đốt ở nông thôn phần nào đã được kiểm soát. Tuy nhiên nhu cầu năng lượng ở nông thôn không phải chỉ dừng lại ở đó. Trong thực tế sản xuất và sinh họat ở nông thôn hiện nay, những động cơ cỡ nhỏ kéo các máy công tác thông thường như bơm nước, phát điện, xay xát, máy lạnh để bảo quản sản phẩm nông nghiệp... có nhu cầu sử dụng rất lớn. Sử dụng khí biogas để chạy các loại động cơ này sẽ giúp cho người nông dân tiết kiệm được chi phí năng lượng, giảm giá thành sản xuất và góp phần tích cực vào việc cải thiện đời sống người dân.

Trên thế giới người ta đã sản xuất những động cơ cỡ lớn sử dụng khí biogas của các bãi rác làm nhiên liệu để sản xuất điện năng. Tuy nhiên các động cơ cỡ nhỏ (công suất nhỏ hơn khoảng 7kW) chạy bằng khí biogas chưa được nghiên cứu phát triển. Từ năm 1995, Bộ môn Động Lực Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng đã hình thành nhóm nghiên cứu động cơ sử dụng nhiên liệu khí. Hơn 10 năm nay, nhóm này đã nghiên cứu thành công và đưa ra thị trường bộ phụ kiện chuyển đổi nhiên liệu LPG/xăng cho xe gắn máy. Kết quả này cũng được ứng dụng trên tàu thuyền nhỏ chạy trên sông sử dụng khí dầu mỏ hóa lỏng LPG. Trên cơ sở những kinh nghiệm và kết quả đã đạt được đối với xe gắn máy chạy bằng ga, chúng ta có thể nghiên cứu chế tạo bộ phụ kiện cho phép chuyển đổi động cơ tĩnh tại cỡ nhỏ chạy bằng xăng sang chạy bằng khí biogas.

Nước ta có hơn 80% dân số sống ở nông thôn. Việc tận dụng các nguồn năng lượng tại chỗ cho sản xuất sẽ giúp cho nông dân tiết kiệm được kinh phí, làm giảm giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân. Sử dụng động cơ nhiệt chạy bằng khí biogas để kéo máy công tác trong sản xuất và đời sống ở nông thôn vì vậy có ý nghĩa rất thiết thực. Mặt khác việc sử dụng nguồn năng lượng này trong sản xuất và đời sống còn góp phần giảm thiểu chất thải, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

2. Khử tạp chất của khí biogas

Thành phần của khí biogas tại một số hầm biogas trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng như bảng 1.

Bảng 1. Thành phần trung bình khí biogas ở một số cơ sở sản suất trên địa bàn Đà Nẵng

CH 4%

CO 2%

H 2S%

N 2%

H 2O%

H 2%

68

22,9

5

3

0,1

1

Hai tạp chất quan trọng trong khí biogas là H 2S và CO 2. H 2S sau khi cháy sẽ tạo ra SO xgây ăn mòn các chi tiết kim loại của động cơ và làm ô nhiễm môi trường không khí. Sự hiện diện của khí CO 2trong biogas làm giảm nhiệt trị của nhiên liệu. Ngoài ra trong biogas còn có một số tạp chất khác nhưng hàm lượng của chúng bé, gây ảnh hưởng không đáng kể đến quá trình cháy, tuổi thọ của động cơ. Vì vậy để có thể sử dụng khí biogas làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong, chúng ta cần khử hai chất H 2S và CO 2.

Việc loại bỏ H 2S trong thực tế thường được thực hiện bằng phương pháp hấp phụ. Trong phòng thí nghiệm, để khử H 2S với hàm lượng bé (như mẫu khí trước khi đưa qua máy phân tích...) người ta thường dùng oxit kẽm làm chất hấp phụ.Phản ứng khử H 2S được viết như sau:

ZnO + H 2S = ZnS + H 2O            (1)

Khi oxít kẽm bão hòa, người ta thay hoàn toàn vật liệu mới chứ không hoàn nguyên vì tính kinh tế thấp.

Để khử H 2S với qui mô lớn hơn, người ta dùng oxít sắt. Quá trình hấp phụ và nhả hấp phụ H 2S trên oxít sắt được biểu diễn bằng các phản ứng sau:

- Hấp phụ: Fe 2O 3+ 3H 2S = Fe 2S 3+ 3H 2O        (2)

- Nhả hấp phụ: 2Fe 2S 3+ 3O 2= 2Fe 2O 3+6S       (3)

Tốc độ phản ứng hấp phụ H 2S của sắt oxit phụ thuộc vào mức độ tiếp xúc giữa khí và bề mặt vật liệu hấp phụ. Do đó để nâng cao tốc độ phản ứng, độ rỗng (xốp) của vật liệu hấp phụ phải lớn. Điều kiện lý tưởng cho phản ứng hấp phụ H 2S bằng oxit sắt là nhiệt độ nằm trong khoảng 28 ÷ 30 oC và độ ẩm của vật liệu hấp phụ khoảng 30%.

Ngoài oxit sắt người ta còn có thể sử dụng quặng bùn có chứa sắt (III) hydroxit để khử H 2S theo phản ứng sau:

3H 2S + 2Fe(OH) 3= Fe 2S 3+H 2O + 62,5 kJ/mol      (4)

Phản ứng trên diễn ra tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ 28 ÷ 30 oC, độ ẩm vật liệu khoảng 30%. Sau khi bão hòa, vật liệu hấp phụ được hoàn nguyên bằng oxy trong không khí với sự tham gia của hơi nước. Kết quả thu được là hydroxit sắt và lưu huỳnh đơn chất theo phản ứng:

2Fe 2S 3+ 3O 2+6H 2O = 4Fe(OH) 3+ 6S +606 kJ/mol     (5)

Thể tích không khí cấp cho quá trình hoàn nguyên được điều chỉnh tuỳ theo nhiệt độ và hàm lượng oxy trong hỗn hợp khí đi vào hệ thống lọc. Vật liệu hấp phụ được xem là hết tác dụng khi hàm lượng lưu huỳnh chiếm 50% khối lượng vật liệu. Lưu huỳnh tích tụ trong vật liệu hấp phụ dần dần bao bọc các hạt Fe(OH) 3và gây cản trở cho sự thâm nhập của H 2S vào bề mặt của các hạt vật liệu hấp phụ.

Đối với việc loại trừ khí CO 2ra khỏi biogas, phương pháp đơn giản nhất là sử dụng nước làm chất hấp thụ. Quá trình hấp thụ và nhả hấp thụ của nước đối với CO 2dựa trên các phản ứng sau:

- Ở nhiệt độ thường: H 2O + CO 2®H 2CO 3(hấp thụ)     (6)

- Ở nhiệt độ cao hơn: H 2CO 3®H 2O + CO 2(nhả hấp thụ)      (7)

3. Hệ thống xử lý khí biogas để chạy động cơ đốt trong

Sơ đồ công nghệ của hệ thống khử tạp chất khí biogas được trình bày trên hình 1. Trên cơ sở nguyên lý loại trừ H 2S và CO 2trên đây, trong sơ đồ này, chúng tôi chọn phương pháp đơn giản nhất để thực hiện việc loại bỏ hai chất trên, đó là dùng oxít sắt để khử H 2S và dùng nước để khử CO 2. Khí biogas từ bể sinh khí được dẫn đến bình tách ẩm để ngưng tụ hơi nước chứa trong nhiên liệu. Sau đó nó được dẫn qua hệ thống lọc tạp chất. Để khử H 2S, chúng tôi sử dụng phoi tiện sắt làm chất hấp phụ (hình 2). Phoi sắt trong môi trường không khí bị oxy hóa thành oxít sắt Fe 2O 3. Quá trình hấp phụ và nhả hấp phụ theo phản ứng. Hệ thống khử H 2S gồm hai bình lọc đặt song song. Nhờ hệ thống van, một trong hai cột lọc này có thể dừng lại để hoàn nguyên hay thay thế vật liệu hấp phụ mới mà không gây cản trở cho việc cung cấp khí biogas. Hoàn nguyên lọc được thực hiện nhờ thổi không khí ấm qua lõi lọc phoi tiện. Nhiệt lượng cung cấp cho không khí có thể lấy từ hệ thống làm mát hay hệ thống thải của động cơ.

Sau khi qua bình lọc H 2S, khí biogas được dẫn đến hệ thống khử CO 2. Hệ thống này gồm bình hấp thụ và bình nhả hấp thụ. Khí biogas có chứa CO 2và sương nước chuyển động ngược chiều trong cột hấp thụ có đường kính 0,25m và chiều cao 3m (hình 3). Sau khi hấp thụ CO 2, nước được gia nhiệt và được bơm lên cột nhả hấp thụ để giải phóng CO 2. Nước sạch thu lại trong bình nhả hấp thụ được bơm tuần hoàn trở lại trong hệ thống. Nhiệt lượng cung cấp cho hệ thống này có thể lấy từ hệ thống làm mát hay hệ thống thải của động cơ.

Trước khi đưa vào động cơ, khí biogas được dẫn qua bình tách ẩm và bình điều hòa.Toàn bộ hệ thống thí nghiệm xử lý tạp chất trong khí biogas được giới thiệu trên hình 4.

Kết quả phân tích khí biogas trước khi vào lọc, sau khi qua lọc H 2S và sau khi ra khỏi hệ thống lọc như trên bảng 2. Kết quả này cho thấy hàm lượng CH 4tăng từ 69,33% lên 88,09% (tăng 30% so với giá trị ban đầu) do hàm lượng khí CO 2đã bị nước hấp thụ (giảm từ 20,63% xuống 8,3%). Hàm lượng H 2S chỉ còn 0,023%, tức chỉ bằng 0,5% so với hàm lượng của nó trong khí biogas trước khi qua lọc. Hàm lượng H 2S tiếp tục giảm sau khi qua cột hấp thụ CO 2vì một bộ phận tạp chất này cũng bị nước hấp thụ.

Bảng 2. Thành phần khí biogas sau khi qua lọc

Cấu tử

Trước lọc (%vol)

Sau lọc H 2S (%vol)

Sau lọc CO 2(%vol)

CH 4

69,33

73,243

88,09

CO 2

20,63

23,092

8,3

H 2S

5,32

0,270

0,023

N 2

1,00

1,071

1,26

O 2

1,55

0,000

0,000

CO

0,10

0,107

0,132

H 2O

0,10

0,107

0,088

H 2

1,97

2,110

2,520

TOTAL

100,00

100,00

100,00

Khí biogas sau khi xử lý được cung cấp cho động cơ xe gắn máy 110cc với bộ phụ kiện chuyển đổi nhiên liệu GA5. Hình 5 là ảnh chụp động cơ xe gắn máy được cung cấp khí biogas. Kết quả bước đầu cho thấy động cơ làm việc bình thường, chạy êm và rất dễ khởi động. Thử nghiệm định tính bằng phanh của xe không cho thấy sự khác biệt nào về công suất khi xe chạy bằng biogas và khi chạy bằng LPG.

Kết quả phân tích khí thải động cơ xe gắn máy chạy bằng biogas được giới thiệu trên bảng 3. Theo TCVN, ở chế động không tải, giới hạn cho phép của HC là 1200ppm và CO là 4,5%. Nếu xem chế độ này ứng với khi động cơ làm quay bánh xe không tải 200 vòng/phút thì khi chạy bằng biogas, mức độ phát thải của động cơ chỉ bằng 10% đối với HC và 1% đối với CO so với giới hạn cho phép của TCVN. Điều này cho thấy sử dụng biogas để chạy động cơ là rất lý tưởng về mặt bảo vệ môi trường. Tương tự như khi sử dụng khí thiên nhiên, khó khăn cần phải giải quyết là tìm kiếm công nghệ lưu trữ biogas trên phương tiện vận tải. Điều này không gây trở ngại cho việc ứng dụng biogas trên động cơ tĩnh tại.

Bảng 3. Kết quả phân tích khí xả động cơ xe gắn máy chạy bằng biogas

Tốc độ quay bánh xe (v/ph) không tải

Tốc độ quy đổi (km/h)

Hàm lượng khí xả

HC (ppm)

CO(%vol)

CO 2(%vol)

200

18.85

102.00

0.04

2.56

300

28.27

738.00

0.08

2.38

450

42.41

644.00

0.09

2.80

4. Kết luận

1. Hấp phụ H 2S bằng oxít sắt và hấp thụ CO 2bằng nước là giải pháp đơn giản và có hiệuquả để xử lý tạp chất, làm giàu khí biogas để làm nhiên liệu cung cấp cho động cơ đốt trong.

2. Mức độ phát thải ô nhiễm của động cơ xe gắn máy với bộ phụ kiện GA5 chạy bằng khí biogas sau khi qua hệ thống lọc này rất thấp, nồng độ HC chưa tới 10% và nồng độ CO chưa tới 1% so với giới hạn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam.

3. Sử dụng khí biogas để chạy động cơ tĩnh tại là giải pháp hữu hiệu về tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường ở nông thôn. Để áp dụng loại nhiên liệu tái sinh này trên phương tiện vận tải, vấn đề quan trọng cần phải nghiên cứu là công nghệ lưu trữ biogas.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.