Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 26/06/2007 15:04 (GMT+7)

Thời sự hoá chiến lược phát triển ngành luyện kim Việt Nam từ nay đến năm 2020

Trong hơn 15 năm trở lại đây, ngành Luyện kim đã khắc phục được khó khăn và bắt đầu tăng trưởng mạnh, sản lượng thép cán trong nước đã vượt ngưỡng 100.000 tấn/năm, sản lượng gang cũng tăng khá, đủ cung cấp cho nhu cầu luyện thép ở Công ty gang thép Thái Nguyên và các nhà máy cơ khí trong nước. Đặc biệt từ 1996 đến nay lực lượng tham gia sản xuất và gia công chế biến thép phát triển rất đa dạng có nhiều thành phần kinh tế tham gia (kinh tế nhà nước, đầu tư trực tiếp của nước ngoài và kinh tế tư nhân) với tổng công suất cán thép trên 5 triệu tấn/năm, công suất luyện phôi là 1.000.000 tấn/năm, đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao khoảng 15% năm, năm 2004 sản xuất trên 800.000 tấn phôi thép và 3 triệu tấn thép cán, tiêu thụ đạt 2,9 triệu tấn, năm 2005 dự kiến sẽ đạt 3,2 – 3,4 triệu tấn thép cán, 1 triệu tấn phôi thép.

Ngoài Tổng công ty thép Việt Nam đơn vị sản xuất thép thuộc thành phần kinh tế nhà nước lớn nhất trong ngành, chiếm 1/3 sản lượng thép cán và 80% sản lượng phôi thép tự sản xuất trong nước còn có 13 dự án liên doanh và đầu tư trực tiếp 100% vốn nước ngoài trong ngành thép, trong đó có 8 nhà máy liên doanh cán thép xây dựng. Tổng công ty thép Việt Nam năm 2004 đạt sản lượng 1,03 triệu tấn thép cán, kế hoạch năm 2005 là 1.240.000 tấn thép cán và 700.000 tấn phôi.

Thời gian gần đây, nhờ có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển đất nước, thành phần kinh tế tư nhân cũng đầu tư mạnh mẽ vào sản xuất thép, đến nay có 11 nhà máy cán thép với thiết bị hiện đại quy mô trung bình được đầu tư và đi vào sản xuất, năm 2004 đạt sản lượng trên 1.100.000 tấn và 1 nhà máy luyện phôi thép (Công ty cổ phần thép Hoà Phát), công suất 250.000 tấn/năm đã đi vào sản xuất trong năm 2004, cùng nhiều dự án sản xuất phôi thép đang khẩn trương xây dựng (Công ty cổ phần thép Đình Vũ, Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên, Công ty thép Cửu Long, Công ty thép Việt), dự kiến sản xuất lượng phôi tự sản xuất của khối kinh tế tư nhân sẽ đạt trên 1 triệu tấn/năm vào cuối năm 2006.

Mặc dù đã đạt một số thành tựu đáng kể, nhưng ngành Luyện kim Việt Nam vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, nguyêu liệu nghèo nàn (hầu như không có than mỡ, nguồn quặng sắt chất lượng cao, điều kiện khai thác khó khăn), mất cân đối giữa sản xuất hạ nguồn với sản xuất thượng nguồn (mỗi năm phải nhập khẩu khoảng 2 triệu tấn phôi), giữa sản xuất thép xây dựng (thép thanh, cuộn) với thép chế tạo cơ khí (thép lá, hiện nay mỗi năm phải nhập khẩu khoảng 2,5 – 3 triệu tấn thép lá, thép chất lượng cao…), giá thành cao, chưa có các nhà máy công suất lớn, hiện đại như khu liên hợp luyện kim làm trụ cột và ngành thép vẫn là ngành kém phát triển, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp so với sản phẩm cùng loại tại một số nước trong khu vực.

Để làm cơ sở cho ngành công nghiệp thép phát triển, Bộ Công nghiệp đã xây dựng chiến lược phát triển ngành thép đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với những quan điểm phát triển như sau:

1) Phát triển ngành công nghiệp thép trở thành một trong những ngành công nghiệp cơ bản, có tiềm lực đủ mạnh để có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu về các loại thép thông dụng của các ngành kinh tế, góp phần xây dựng nên kinh tế độc lập tự chủ và bảo đảm an ninh quốc phòng cho đất nước.

2) Phát triển ngành thép phải đảm bảo kết hợp hài hoà giữa phát huy nội lực trên cơ sở khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nước (tài nguyên khoáng sản, vốn, lao động) và huy động các nguồn lực từ bên ngoài (vốn, công nghệ, kinh nghiệm).

3) Phát triển ngành thép phải đảm bảo sự phát triển hợp lý giữa khâu thượng nguồn (sản xuất thép thô), và hạ nguồn (thép cán và sản phẩm gia công sau cán); đảm bảo tính bền vững và khả năng cạnh tranh trong tiến trình hội nhập kinh tế và phân công lao động quốc tế, nhanh chóng tiếp cận công nghệ mới, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến môi trường.

4) Huy động, khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển ngành thép trên tinh thần đảm bảo lợi ích nhà đầu tư gắn liền với lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội; các doanh nghiệp Nhà nước, mà nòng cốt là Tổng công ty thép Việt Nam giữ vai trò chủ đạo, chịu trách nhiệm đầu tư vào những lĩnh vực không có khả năng huy động các thành phần kinh tế khác.

Một số mục tiêu cụ thể:

a) Về chất lượng và chủng loại sản phẩm: phấn đấu chất lượng sản phẩm thép Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế, đến năm 2010 cơ bản đáp ứng 60% nhu cầu thép trong nước và 80% nhu cầu phôi thép để cán thép xây dựng. Riêng thép đặc biệt cho chế tạo cơ khí, thép đặc chủng cho công nghiệp quốc phòng, sẽ tập trung đầu tư sản xuất với quy mô phù hợp, đáp ứng một số chủng loại có nhu cầu lớn, thường xuyên, còn lại sẽ nhập khẩu. Sản phẩm sản xuất trong nước đủ cạnh tranh về chất lượng và giá cả khi hội nhập.

b) Về trình độ sản xuất: đến năm 2020 trình độ sản xuất của toàn ngành sẽ đạt mức tiên tiến trong khu vực, với trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến và được tự động hoá cao.

c) Về đảm bảo nguyên liệu: sử dụng đến mức cao nhất nguồn nguyên liệu trong nước. Chủ động tìm nguồn nhập khẩu thép phế, than cốc, quặng sắt, phôi thép ổn định.

d) Về đầu tư phát triển: tập trung cho việc cơ cấu lại ngành thép quốc doanh, cổ phần hoá các đơn vị chuyên kinh doanh thép thuộc Tổng công ty thép Việt nam, nghiên cứu chuyển đổi mô hình quản lý của Tổng công ty với các đơn vị sản xuất thành viên sang mô hình quản lý mới: Công ty mẹ, công ty con. Đẩy mạnh công tác chuẩn bị nhằm sớm hình thành Khu liên hiệp luyện kim tại miền Trung (tỉnh Hà Tĩnh), với công suất 4 – 5 triệu tấn thép/năm. Trước năm 2010 cố gắng tìm nguồn vốn đầu tư một số công trình chủ yếu, là hạt nhân của Khu liên hiệp như: đầu tư cơ sở hạ tầng, khai thác quặng sắt, luyện thép, nhà máy cán nóng.

e) Về thị trường: từng bước thay thế thép nhập khẩu bằng thép sản xuất trong nước, làm chủ thị trường về các loại thép thông dụng (kể cả tấm lá) có nhu cầu lớn, thường xuyên. Chú trọng tìm kiếm thị trường để tiến tới xuất khẩu thép.

g) Về vốn đầu tư: huy động vốn trong nước và vốn nước ngoài bằng nhiều hình thức như: mua thiết bị trả chậm, phát hành trái phiếu, cổ phần hoá doanh nghiệp để huy động vốn góp cổ phần cho đầu tư phát triển sản xuất thép, nghiên cứu cơ chế đặc biệt khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp đầu tư hoặc liên doanh với Việt nam sử dụng nguồn quặng sắt sẵn có trong nước để phát triển sản xuất khâu thượng nguồn.

h) Về tốc độ tăng trưởng sản xuất thép:

- Giai đoạn 2001 – 2005: bình quân tăng 14% /năm.

- Giai đoạn 2006 – 2010: bình quân tăng 10% /năm

- Giai đoạn 2011 – 2020: bình quân tăng 8,5 – 9,5% /năm

i) Về sản lượng thép thành phẩm sản xuất trong nước:

- Đến năm 2005 đạt 3,3 triệu tấn thép/năm,

- Đến năm 2010 đạt 6,1 triệu tấn/năm,

- Đến năm 2015 đạt 10 triệu tấn/năm,

- Đến năm 2020 đạt trên 14 triệu tấn/năm.

k) Cân đối sản xuất trong nước và nhập khẩu:

Bảng 1

Năm

Sản xuất trong nước (nghìn tấn)

Nhập khẩu (nghìn tấn)

Cơ cấu tiêu thụ

Tổng nhu cầu (nghìn tấn)

Sản xuất

Nhập khẩu

2005

3.300

3.180

51

49

6.480

2010

6.100

3.900

61

39

10.000

2015

10.000

6.000

62

38

16.000

2020

14.000

6.000

70

30

20.000

Bước sang năm 2004 tình hình cung cầu thép trên thế giới có những biến động lớn, nguồn cung khan hiếm và giá cả tăng vọt, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành sản xuất thép nói riêng mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ kinh tế nói chung. Để khắc phục những ảnh hưởng do giá thép thế giới tăng cao, Chính phủ đã có những chính sách nhằm bình ổn thị trường thép trong nước như giảm thuế nhập khẩu phôi thép và thép thành phẩm, huy động tối đa năng lực sản xuất đảm bảo cung cấp đủ thép cho thị trường, kiểm soát chi phí giá thành và giá bán trên thị trường…

Bước sang năm 2005, tình hình sản xuất thép hiện nay đang gặp khó khăn, do giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thép và phôi thép trên thị trường thế giới vẫn cao, trong khi đó các doanh nghiệp đang phải bán với giá thấp, nhiều khi dưới giá thành làm cho sản xuất kinh doanh không hiệu quả.

Với mong muốn xây dựng và phát triển ngành Luyện kim sớm trở thành một trong những ngành công nghiệp cơ bản trên cơ sở tận dụng và phát huy mọi tiềm năng và lợi thế của đất nước cũng như những cơ hội mà quá trình hội nhập mang lại, đồng thời có tính đến những điều kiện cụ thể của đất nước, Bộ công nghiệp đang chỉ đạo Tổng công ty thép Việt Nam và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án đầu tư nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài và chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế một cách có hiệu quả:

1) Dự án Nhà máy thép Phúc Mỹ, công suất 500.000 tấn phôi thép 1 năm và 400.000 tấn thép cán/năm sẽ đi vào sản xuất cuối năm 2005 và 3 nhà máy luyện phôi thép của tư nhân dự kiến cũng đi vào sản xuất trong năm nay, nâng năng lực tự sản xuất phôi trong nước lên gần 2 triệu tấn, vượt chỉ tiêu được ghi trong Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 9 đã đề ra.

2) Dự án Nhà máy thép cán nguội Phú Mỹ, lần đầu tiên được xây dựng tại nước ta, công suất giai đoạn 1 là 205.000 tấn/năm đã đi vào sản xuất trong tháng 5 năm 2005, sản phẩm đạt được chất lượng tốt, được thị trường chấp nhận.

3) Dự án Nhà máy cán thép Thái Nguyên công suất 300.000 tấn/năm cũng đã đi vào sản xuất trong đầu Quý 2 năm 2005.

Các Dự án sẽ khởi công mới gồm:

- Dự án cải tạo gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2, công suất 500.000 tấn phôi thép/năm, Chính phủ đã cho phép đầu tư, dự kiến khởi công vào cuối năm 2005.

- Dự án hợp tác với Tập đoàn gang thép Côn Minh Vân Nam, Trung Quốc thành lập Công ty liên doanh khai thác, chế biến quặng sắt Quý Xa Lào Cai, công suất 3 triệu tấn quặng/năm và 500.000 tấn phôi thép/năm, hiện đang chuẩn bị thủ tục đầu tư.

Các Dự án chuẩn bị đầu tư:

1) Dự án đầu tư 100% vốn Đài Loan sản xuất thép không rỉ công suất 720.000 tấn/năm, vốn đầu tư 650 triệu USD, sản phẩm dùng để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước đặt tại Vũng Tàu.

2) Dự án Khu liên hợp luyện kim Vũng áng – Hà Tĩnh, công suất 4,5 triệu tấn thép/năm, năm 2005 hoàn thành Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và chuyển sang làm Báo cáo nghiên cứu khả thi.

3) Dự án khai thác quặng sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, năm 2005 hoàn thành Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và chuyển sang làm Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Đối với 2 Dự án Khu liên hợp luyện kim và khai thác quặng sắt Thạch Khê cần nguồn vốn rất lớn, khoảng 3 tỷ USD; vì vậy chúng ta sẽ huy động nguồn vốn trong nước kết hợp với việc kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm thu hút công nghệ kỹ thuật hiện đại và giảm bớt khó khăn về nguồn vốn, hiện tại một số công ty, tập đoàn luyện kim mạnh từ nước ngoài như: POSCO (Hàn Quốc), ARCELOR (Pháp), SUNSTEEL (Đài Loan), ESSAR Ấn Độ quan tâm đến 2 Dự án này.

4) Dự án xây dựng Khu liên hợp thép tại Khu công nghiệp Nhơn Trạch, Đồng Nai, 100% vốn đầu tư nước ngoài, công suất giai đoạn đầu 1 triệu tấn thép thỏi/năm, vốn đầu tư trên 200 triệu USD do Công ty SNSTEEL (Đài Loan) đầu tư.

Ngoài ra, còn có một số dự án đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất thép tấm, thép lá, với tổng mức đầu tư trên 3 tỷ USD đang được Chính phủ xem xét cho phép đầu tư.

Đầu tư vào ngành thép (nhất là thượng nguồn), cần vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, hiệu quả không cao. Vì vậy, để tạo điều kiện cho ngành thép phát triển, coi việc “phát triển nhanh ngành thép là yêu cầu khách quan, cấp bách và có ý nghĩa chiến lược”, trước mắt Nhà nước cần sớm ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể cho ngành thép như:

- Coi đầu tư cho ngành thép như là đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho đất nước.

- Các chính sách về đầu tư, tài chính, về quản lý chất lượng sản phẩm, về quản lý thị trường và các chính sách xã hội liên quan đến ngành thép.

- Nhà nước cần duy trì chính sách bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn cho một số lĩnh vực, sản phẩm thuộc ngành thép để tạo điều kiện cho ngành phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

Qua biến động giá phôi thép trên thị trường thế giới, đã gây khó khăn nhất định cho nền kinh tế nước ta, chúng ta càng nhận ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nên kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam ta. Muốn thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu chúng ta phải thống nhất quan điểm nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp cơ bản như: luyện kim đen, luyện kim màu, hoá chất, năng lượng, lọc hoá dầu, vật liệu xây dựng… Đáp ứng nhu cầu tạo ra nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp then chốt như: cơ khí chế tạo, (đóng tàu biển, ô tô…), công nghiệp hoá dược, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp quốc phòng… tạo ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cho đời sống xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.