Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 17/09/2007 17:48 (GMT+7)

Thoát nghèo nhờ tín dụng cộng đồng

Mặc dù đã nghe nói từ lâu nhưng chỉ đến khi về Thanh Thủy, Phú Thọ mới thấy được sự phát triển của các mô hình tín dụng cộng đồng. Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn (RDSC) triển khai Chương trình tín dụng cộng đồng ở 3 xã Phượng Mao, Yến Mao và Tu Vũ (Thanh Thủy) từ hơn 10 năm trước, đến nay, mô hình này đã phát triển ở 10 xã thuộc 3 huyện Thanh Thủy, Thanh Sơn và Tân Sơn của tỉnh Phú Thọ. Mục tiêu của chương trình là giúp những cộng đồng nghèo nhất có nguồn vốn để tăng gia sản xuất, từ đó cải thiện điều kiện sống, thoát nghèo.

Quỹ tín dụng xã Yến Mao được đánh giá là mô hình bài bản, thành công nhất của huyện Thanh Thủy. Yến Mao là một xã dân tộc miền núi, nơi sinh sống của 5 dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Mường, Hoa, với 965 hộ, trong đó 359 hộ nghèo, thu nhập bình quân 2,38 triệu đồng/người/năm. Người dân trên địa bàn sống chủ yếu bằng trồng trọt và chăn nuôi.


Chị Nguyễn Thị Hồng giới thiệu Quy chế hoạt động và Quy chế cho vay của Quỹ tín dụng xã Yến Mao. Kể từ khi thành lập (8/1997), Quỹ tín dụng Yến Mao đã tồn tại và phát triển đến nay đã tròn 10 năm, được các xã lân cận trong huyện, trong tỉnh và cả các tỉnh bạn tìm đến tham quan, học hỏi. Nòng cốt của Quỹ là Hội Phụ nữ xã. Nhờ có quỹ mà chị em nghèo có thể tiếp cận nguồn vốn một cách thuận tiện, từ đó đầu tư vào các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt, dịch vụ nông nghiệp…, để cải thiện kinh tế gia đình. Quỹ hoạt động có quy chế, huy động vốn từ tiết kiệm định mức (cổ phần), tiết kiệm tự nguyện và vốn đối ứng từ RDSC (vốn này tỷ lệ với mức huy động tiết kiệm đóng góp theo quý). Chị em tham gia Quỹ đóng góp dần dần, có thể bắt đầu từ những khoản tiền rất nhỏ, chỉ vài chục ngàn đồng. Lãi suất cho vay dù không thấp hơn nhiều so với lãi suất của ngân hàng thương mại, nhưng Quỹ vẫn luôn là địa chỉ được nhiều chị em tin cậy tìm đến. Bởi vì ngoài việc không phải thế chấp, chị em còn được cán bộ Hội Phụ nữ, cán bộ dự án hướng dẫn sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả. Quỹ được tổ chức thành các tổ, nhóm từ 5 đến 10 chị em. Nguyên tắc cho vay của Quỹ là người vay phải trả xong món vay cũ, mới được vay món mới; mức vay tăng dần theo khả năng của người vay; mức vay phụ thuộc vào khả năng huy động nguồn vốn (chủ yếu là món nhỏ, cao nhất thường là 1.000.000 đồng). Đặc biệt quyết định vay được bàn bạc dân chủ, công khai. Và do mức vay của một tổ phụ thuộc vào chất lượng trả gốc của cả tổ nên trách nhiệm của các tổ trưởng là đôn đốc, hỗ trợ các thành viên thực hiện đúng theo quy chế. Ngoài tiết kiệm định mức từ các thành viên (sau 10 năm thu được 72,21 triệu đồng), Quỹ huy động được 35,68 triệu đồng tiết kiệm từ cộng đồng, với lãi suất bằng mức gửi của ngân hàng thương mại. Với khoản tiền này, Quỹ cũng đặt ra những quy định như mức gửi không quá 10 triệu đồng, thời hạn gửi ít nhất là 6 tháng, có thể rút trước kỳ hạn nhưng phải báo trước 2 tháng. Do hoạt động của Quỹ có hiệu quả và uy tín nên số tiền huy động từ cộng đồng tăng lên, từ 4 triệu đồng năm 2001, đến nay năm nào Quỹ cũng huy động được từ 10 triệu đồng trở lên (riêng năm 2004 là 26 triệu đồng).


Chị Nguyễn Thị Hồng giới thiệu Quy chế hoạt động và Quy chế cho vay của Quỹ tín dụng xã Yến Mao.
Báo cáo thu nhập chi phí và Bảng cân đối kế toán (6/2007) của Quỹ tín dụng Yến Mao.Những hoạt động của Quỹ tín dụng Yến Mao đã góp phần thay đổi diện mạo đời sống người dân nơi đây. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 60% xuống còn 37,6%. Số lượng các thành viên tham gia tăng dần theo các năm, từ 290 người (năm 1997) lên trên 400 người năm 2007.

Chị Nguyễn Thị Hồng, Giám đốc Quỹ tín dụng xã, cho biết, bên cạnh sự giúp đỡ nhiệt tình của RDSC, thành công của Quỹ có được còn do có sự ủng hộ, vào cuộc của chính quyền xã, sự phối hợp ăn ý của các đoàn thể. Đặc biệt, không thể không kể đến tinh thần tự nguyện, tương thân tương ái của chị em phụ nữ. Từ những ngày đầu mới gây dựng Quỹ, chị em cán bộ phụ nữ xã tham gia triển khai các hoạt động một cách tự nguyện, chỉ tới một vài năm gần đây, chị em mới nhận khoản phụ cấp rất khiêm tốn, người cao nhất là 60.000 đồng/tháng.

Thành công của Yến Mao có được cũng là do biết rút kinh nghiệm hoạt động từ mô hình Quỹ tín dụng xã Phượng Mao. Được triển khai đầu tiên trên địa bàn huyện Thanh Thủy, để tạo điều kiện cho người vay dễ dàng tiếp cận với những khoản vốn khác nhau, Quỹ Phượng Mao đã thiết kế 4 loại sản phẩm là trung hạn(2 năm, món vay từ 2 đến 5 triệu đồng) dành cho các hoạt động trông cây lâm nghiệp, nuôi đại gia súc; ngắn hạn(tối đa 1 triệu đồng/1 năm) cho chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm, nghề phụ; thời vụ(300.000 đồng/6 tháng) để mua phân bón, giống và khẩn cấp(500.000 đồng) cho ốm đau, rủi ro... Ưu điểm của việc thực hiện nhiều loại hình sản phẩm tín dụng là các thành viên được vay nhiều món, giải quyết khó khăn về tài chính mà không phải chịu lãi suất cao. Tuy nhiên, do đối tượng vay là những người nghèo nhất, quy mô Quỹ nhỏ nên nhiều thành viên không có đủ khả năng hoàn trả, xuất hiện nợ trả chậm đến quá hạn và khó đòi, sự bền vững của Quỹ bị đe dọa. Bài học rút ra là Quỹ không nên cung cấp quá nhiều sản phẩm cùng một lúc. Cho nên, từ năm 2000 đến nay, với mỗi khách hàng, 10 quỹ tín dụng của 3 huyện chỉ cho vay mỗi lần một khoản tiền, trả xong món trước mới được vay tiếp món sau. Cũng nhờ “sự cố” nợ khó đòi mà cán bộ tín dụng xã Phượng Mao lại có thêm kinh nghiệm giải quyết các trường hợp nợ quá hạn. Chị Đỗ Thị Dung, Giám đốc Quỹ tín dụng xã, cho biết Quỹ đã mất 3 năm kiên trì giải quyết các khoản nợ quá hạn với tổng số tiền trên 30 triệu đồng. Chị ví hoạt động này như một “cuộc cách mạng nhỏ”, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của Quỹ. Cùng với Đảng ủy, UBND xã, các trưởng thôn, các chị đã lập một ban đòi nợ. Ban này có nhiệm vụ xác định lại các đối tượng chậm trả nợ vay. Với những đối tượng có khả năng, nhưng chây ì thì thuyết phục, với những hộ quá nghèo thì mượn ruộng, rồi tổ chức đấu thầu để sản xuất nông nghiệp, giúp họ trả nợ. Với những hoạt động phối hợp nhịp nhàng, quyết liệt đó, đến nay Quỹ tín dụng xã Phượng Mao đã giải quyết dứt điểm tình trạng nợ khó đòi, từ đó rút được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động.

Hơn 50 đại biểu đến từ một số tổ chức quốc tế,các tổ chức phi chính phủ, tổ chức cộng đồng hoạt động trên địa bàn Hà Nội, Hòa Bình, Phú Thọ, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế đã tham gia hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm của các NGO về các mô hình tín dụng cộng đồng”.

Chị Nguyễn Thị Lý, Giám đốc Quỹ tín dụng xã Tu Vũ, lại cho biết một kinh nghiệm hay khác. Đó là để hạn chế rủi cho các thành viên vay vốn đầu tư sản xuất, xã của chị còn tổ chức dịch vụ bảo hiểm vật nuôi. Dịch vụ này do các tổ Thú y đảm nhiệm. Các hộ gia đình sử dụng dịch vụ này đóng lệ phí bảo hiểm cho từng vật nuôi (ví dụ 20.000 đồng/đầu lợn), Tổ Thú y sẽ đảm bảo tiêm phòng các bệnh thường gặp (6 bệnh với lợn, trong chu kỳ 4 tháng nuôi). Nếu vật nuôi bị chết do các bệnh đã được tiêm phòng, chủ vật nuôi sẽ được Tổ Thú y trả 70% giá trị vật nuôi tại thời điểm đó. Đến nay, 100% hội viên vay vốn của Quỹ tín dụng xã Tu Vũ đều sử dụng dịch vụ tiêm phòng, chữa bệnh của Tổ Thú y. Nhờ đó, số hội viên gặp rủi ro do gia súc, gia cầm bị bệnh giảm đáng kể. Trong 815 lượt vay đầu tư để chăn nuôi, chỉ có 5% bị rủi ro do bệnh tật. Ngoài bảo hiểm vật nuôi, việc đầu tư vốn của Quỹ luôn gắn với các hoạt động khuyến nông như trồng thử nghiệm các loại cây mới, giống mới; sử dụng các dịch vụ mới trong chăn nuôi – thú y; áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, trồng trọt…

Đến nay, cả 10 quỹ tín dụng của 3 huyện thuộc tỉnh Phú Thọ đã thống nhất được quy chế cho vay, trong đó xác định đối tượng cho vay, điều kiện vay vốn của các thành viên. Ban Quản lý Quỹ có trách nhiệm thẩm định tính khả thi của kế hoạch sử dụng vốn của các thành viên, theo dõi hiệu quả sử dụng và hoàn trả vốn các kỳ,… Hệ thống sổ sách kế toán được các quỹ sử dụng, trình bày rõ ràng, có tính chuyên nghiệp. Hằng tháng, Quỹ ấn định ngày để các tổ tín dụng gửi báo cáo mọi hoạt động cho vay, rồi tổng hợp thành báo cáo của Quỹ niêm yết công khai ngay tại văn phòng.

Chị em gia nhập Quỹ được tham gia các hoạt động của Hội Phụ nữ, phát triển kỹ năng quản lý gia đình, sử dụng nguồn vốn… Qua quá trình hoạt động, nhiều chị em có năng lực được đào tạo làm các công việc như kế toán, cán bộ nguồn cấp xã… Vị thế, tiếng nói của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng cũng tăng lên. Chẳng hạn như ở xã Tu Vũ, 75% phụ nữ đóng vai trò chính trong việc hạch toán kinh tế gia đình; tỷ lệ phụ nữ tham gia họp thôn, tiếp xúc cử tri tăng từ 20% lên 50%. Phụ nữ tham gia vào nhiều việc mà trước đây chỉ dành cho nam giới: đi họp thôn, tham gia tổ chức bầu cử…

Tài chính vi mô – một công cụ xóa đói, giảm nghèo hữu hiệu

Tài chính vi mô (TCVM) là phương pháp tín dụng nhằm thay thế vật thế chấp khi cung cấp vốn cho người nghèo với niềm tin rằng họ có điều kiện để hoạt động tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống và hoàn trả được vốn.

Ban đầu, TCVM cung cấp những món vay rất nhỏ cho những người rất nghèo. Hiện nay, tài chính cung cấp nhiều loại dịch vụ rộng rãi hơn (tín dụng, tiết kiệm, chuyển tiền…) cho những người nghèo.

Khách hàng của TCVM là những người có thu nhập thấp, những người không có điều kiện tiếp cận tới các tổ chức tài chính chính thức.Họ là những người tự kiếm việc làm, thường là các doanh nghiệp gia đình. Ở khu vực nông thôn, họ là những hộ tiểu nông và những người đăng kí hoạt động nhỏ như chế biến thức ăn, buôn bán nhỏ. Ở thành thị, hoạt động TCVM là rất đa dạng như chủ cửa hiệu, nhà cung cấp dịch vụ, bán hàng vỉa hè…

TCVM là sản phẩm của cuộc chiến chống nghèo khổ trên phạm vi toàn cầu. TCVM theo hướng thể chế được sinh ra ở một quốc gia nghèo nhất thế giới (Grameen Bank, Bangladeh) và nhanh chóng lan ra các nước đang phát triển, thậm chí ở cả các nước phát triển. Sứ mệnh của nó là bảo đảm quyền bình đẳng về các cơ hội tiếp cận cho những nhóm người nghèo, nhóm dễ bị tổn thương mà tài chính chính thức với cơ chế truyền thống đã gạt họ ra bên lề của cơn lốc phát triển. Nó thức tỉnh và lôi kéo 1/4 nhân loại (nhóm nghèo) vào các hoạt động kinh tế, tránh lãng phí 1/4 nguồn lực của toàn cầu và giảm gánh nặng cứu trợ cho 3/4 nhân loại còn lại ở tất cả các quốc gia.

Nguồn tài trợ (cho vay không thế chấp, lãi suất ưu đãi) chỉ là chất xúc tác, mang nội dung phát triển, chuyển giao công nghệ, tạo ra các cơ hội ngang bằng, khuyến khích người nghèo đón nhận các cơ hội, thực thi thành công các hoạt động kinh tế - tài chính, trên cơ sở đó hình thành sự tự tin rồi từng bước đi đến tự lực và hoà nhập vào xã hội phát triển.

TCVM hiện đại phát triển theo hướng tiếp cận với nguồn vốn thương mại để chủ động, sẵn sàng hoà nhập khi toàn cầu hoá diễn ra.

“Nghèo đói không phải do người nghèo gây ra. Xin hãy đừng nhìn họ với con mắt đầy cáo buộc”(GS.TS Muhammad Yunus, Giải Nobel Hòa bình 2006)

Để ghi nhận những đóng góp to lớn của TCVM trong cuộc chiến chống đói nghèo, Liên hợp quốc đã chọn năm 2005 là Năm quốc tế về tài chính vi mô.

Tháng 11/2006, GS.TS Muhammad Yunus, tác giả của mô hình TCVM, người thành lập Ngân hàng Grameen chuyên dành cho người nghèo tại Bangladesh, đã được trao giải thưởng Nobel Hòa bình 2006.

Để tạo điều kiện cho TCVM ở Việt Namphát triển, ngày 09/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2005/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam .

Tuy nhiên, TCVM ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, manh mún; thiếu sự kết nối giữa các tổ chức TCVM; thiếu khuôn khổ pháp lý và định hướng chiến lược về TCVM (Nghị định 28/2005/NĐ-CP thiếu tính khả thi, chưa bao quát được hoạt động của các tổ chức cộng đồng với quy mô cấp xã); chưa áp dụng công nghệ mới trong quản lý; cán bộ của TCVM thường là kiêm nhiệm nên bị quá tải…

Cần có những giải pháp tháo gỡ để TCVM thực sự trở thành công cụ xóa đói, giảm nghèo hữu hiệu ở Việt Nam .

(Trích lược báo cáo của bà Lê Thị Lân, chuyên gia về TCVM, Trung tâm nguồn lực tài chính cộng đồng, tại Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm của các NGO về các mô hình tín dụng cộng đồng”)

Báo cáo thu nhập chi phí và Bảng cân đối kế toán (6/2007) của Quỹ tín dụng Yến Mao.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.