Thiếu liên kết, nhà máy “chết” trong vùng nguyên liệu
“Đói” trong vựa trái cây
Ông Jean Luc Voisin, Giám đốc Công ty TNHH Vườn trái cây Cửu Long nói: “Hãy cho chúng tôi biết vùng nào có nhiều loại trái cây tươi cần bán, công ty sẵn sàng hợp tác. Đây là công ty 100% vốn nước ngoài, có nhà máy chế biến cà phê, nước ép, mứt trái cây, với tổng vốn đầu tư 2,7 triệu USD. Đặt nhiều tham vọng khi chọn “bến đỗ” là vùng có nhiều cây ăn trái nhưng công ty luôn ở trong tình trạng “đói” nguyên liệu trầm trọng. Bình quân mỗi tuần nhà máy từ 50-60 tấn trái cây tươi các loại để làm nước ép nhưng lâu nay không thể mua đủ. “Hiện chúng tôi cần 20 tấn chanh dây/tháng nhưng cả vùng chỉ mua được khoảng 6 tấn. Ổi ruột đỏ càng hiếm, nhà máy cần 12 tấn/tháng nhưng đội ngũ thu mua chỉ gon được... 200kg” - ông Jean nói. Giám đốc một công ty chuyên kinh doanh hàng nông sản đã phải kêu trời bởi hơn hai tháng qua, công ty không mua được tấn hạt tiêu nào để chế biến xuất khẩu bởi chỉ gom từ dân mỗi nơi vài ba ký nên không thể đủ hàng.
Tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất “không tha” các doanh nghiệp đã xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định. Công ty cổ phần Rau quả Tiền Giang (VEGETIGI) có 3.500 ha chuyên canh dứa, sản lượng 50.000 - 60.000 tấn/năm nhưng năm nào nhà máy cũng thiếu nguyên liệu. Để có đủ nguyên liệu cho nhà máy hoạt động, công ty phải ký kết với trung gian, mua hàng trôi nổi nhưng cũng chỉ đáp ứng được 20-30% công suất (thiếu khoảng 3.000 tấn/tháng).
Sau thời gian dài “ngủ đông dưỡng máy”, các nhà máy chế biến cơm dừa nạo sấy ở Bến Tre mới hoạt động trở lại nhưng cũng chỉ đạt 50% công suất do không đủ nguyên liệu. Đã 10 tháng nay, Công ty chế biến dừa Phú Hưng luôn thiếu nguyên liệu dừa khô nên không thể giao hàng đúng kế hoạch, một số đối tác doạ cắt hợp đồng. Trong khi nguyên liệu trong nước thiếu trầm trọng thì tàu của Trung Quốc, Campuchia lại “ăn” hàng với số lượng lớn.
“Ba cây chụm lại”... nên vùng nguyên liệu
Một giải pháp không còn là mới (bởi đã đề cập nhiều lần) nhưng cho đến nay vẫn thực hiện chưa dứt điểm và hiệu quả. Đó là tạo sự gắn kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tăng quy mô sản xuất, đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều, ổn định và đáp ứng nhu cầu về số lượng. Ngoài ra, còn có vai trò của nhà khoa học trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Nhiều người ví von, mối quan hệ này như hình ảnh “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; chỉ tiếc rằng hiện mỗi “cây” vẫn đi một ngả nên sản xuất của người nông dân vẫn nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng sản phẩm không đồng đều. Cả một vùng nguyên liệu trái cây rộng lớn là ĐBSCL tuy có nhiều sản phẩm đa dạng nhưng lại phát triển theo kiểu mỗi thứ trồng một chút và nhắm tới thị trường bán lẻ trái cây tươi hoặc chỉ bán hàng thô xuống tàu như ở đảo dừa Bến Tre mà không chú trọng đến việc gia tăng giá trị cho từng sản phẩm.
Tại cuộc hội thảo mới đây về phát triển ngành dừa do UBND tỉnh Bến Tre tổ chức, nhiều chuyên gia nêu vấn đề: Tại sao Trung Quốc mua dừa Việt Nam với giá cao còn ta lại không cạnh tranh nổi? Mấu chốt của vấn đề là công nghiệp chế biến dừa trong nước chưa có đủ chính sách, vốn, giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ, năng lực chế biến... và chưa ai đánh giá đúng mức tác động xã hội khi bán hàng thô và chế biến hàng tinh chế xuất khẩu để giảm nạn bán hàng thô.
Nhà máy “đói” nguyên liệu, phải sản xuất cầm chừng trong khi nông dân luôn phải chịu cảnh “trúng mùa rớt giá”. Nghịch lý này xem ra sẽ không bao giờ hết nếu các nhà quản lý không nhìn thẳng vào hệ thống các vùng nguyên liệu được xây dựng trong thời gian qua. Cách làm “được chăng hay chớ” mạnh ai nấy đi đang làm héo mòn một tiềm năng mà lẽ ra nó phỉa đem lại nguồn lợi lớn. Người ta đang chờ đợi sự “chụm” lại của các “cây” lớn để tạo ra được một “ngọn núi” cao, góp phần gia tăng giá trị cho hàng nông sản Việt.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 32 (518), 7/8/2006, tr 7








