Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 06/09/2011 21:16 (GMT+7)

Thành quả cải cách: So sánh Trung Quốc và Việt Nam

Tuần Việt Nam xin giới thiệu lại bài phân tích cách đây 3 năm của tiến sĩ Vũ Minh Khương về nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt này.

Trong năm thập kỷ vừa qua, Đông Á đã nổi lên là một khu vực với những câu chuyện ngoạn mục về sự phát triển kinh tế. Ngân hàngThế giới (WB) đã xác định 8 nền kinh tế châu Á đạt thành quả cao nhất (HPAEs) là Nhật Bản, "Bốn Con rồng châu Á" gồm Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan, và ba nền kinh tế mới được công nghiệp hóa (NIEs) gồm Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Trong khi bốn Con rồng châu Á và NIEs đều đạt được các thành quả ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và phát triển, giữa các nền kinh tế này vẫn có sự khác biệt về nhịp độ và hiệu quả của tăng trưởng. Hơn nữa, sự phục hồi chậm chạp sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 của các nền kinh tế NIEs cũng như của bốn Con rồng châu Á khiến ta nghĩ rằng hai nhóm này có những khác biệt đáng kể về các nhân tố cơ bản tạo ra thành quả kinh tế của họ.

Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng chú ý kể từ khi phát động cuộc cải cách kinh tế trong nước (Trung Quốc vào năm 1978 và Việt Nam năm 1986). Tuy nhiên, giống như giữa bốn Con rồng châu Á với NIEs, hai nước này cũng chứng kiến những khác biệt lớn về thành quả tăng trưởng kinh tế. Trung Quốc và Việt Namđi theo những mô hình tăng trưởng tương tự nhau, nhưng tăng trưởng của Việt Nam hiện thấp hơn của Trung Quốc rất nhiều.

Bên cạnh Trung Quốc, cần phải nhấn mạnh rằng Ấn Độ, nước đã thúc đẩy tăng trưởng mạnh kể từ khi tiến hành cải cách năm 1991, cũng đã làm tốt hơn Việt Nam từ năm 2004, và cả Trung Quốc và Ấn Độ dự kiến sẽ phục hồi nhanh hơn Viêt Nam sau cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay.

Các quan sát trên cho thấy sự khác biệt về thành quả kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ lớn hơn nữa, chứ không đơn giản là sự chênh lệch về số lượng trong tăng trưởng kinh tế vào một thời gian nào đó.

Những nét tương đồng

Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vào năm 1949, trong khi quá trình này ở Việt Nam bắt đầu năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước thống nhất. Cả Trung Quốc và Việt Nam đã bắt đầu phát triển kinh tế từ những nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.

Tháng 12/1978, phiên họp toàn thể lần thứ ba của Ủy ban trung ương đảng lần thứ 11 ở Trung Quốc đã đưa ra sáng kiến về cuộc cải cách kinh kế. Tám năm sau, vào tháng 12/1986, Đại hội lần thứ VI của đảng Cộng sản Việt Nam cũng phát động cải cách kinh tế, được biết đến với cái tên "Đổi Mới". Dù các cuộc cải cách kinh tế ở hai nước được khởi động cách nhau gần một thập kỷ, nhưng hai cuộc cải cách này có những đặc điểm tương đồng, về bối cảnh dẫn tới cải cách, các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ban đầu, cũng như các phương pháp tiến hành cải cách và quản lý kinh tế.

Thực vậy, cuộc cải cách kinh tế ở cả hai nước đề xuất phát từ bối cảnh gồm ba nhân tố quan trọng cần cho sự thay đổi: khả năng lĩnh hội cái mới, khủng hoảng và cơ hội. Trong thời kỳ tiền cải cách (ở Trung Quốc từ năm 1949-1978, ở Việt Nam từ năm 1954-1986), hai nước đã có những nỗ lực vượt bậc nhằm xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, song chưa thành công. Trung Quốc bị bần cùng hóa bởi thảm họa Đại Nhảy vọt và Cách mạng văn hóa, trong khi nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ vì chính sách tập thể hóa đất đai, quốc hữu hóa công nghiệp tư nhân và các thể chế thương mại.

Sau gần 30 năm phát triển kinh tế với mức tăng trưởng hàng năm đạt 2,7%, GDP trên đầu người của Trung Quốc năm 1978 chỉ đạt 164 USD. Năm 1986, Việt Nam bị liệt vào danh sách các nước nghèo nhất thế giới, với GDP trên đầu người chỉ là 203 USD. Tăng trưởng chỉ đạt 1,4% trong 10 năm sau khi đất nước thống nhất năm 1976 và Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào viện trợ kinh tế của Liên Xô.

Các mô hình phát triển kinh tế làm ai cũng thấy nản này đã khiến Trung Quốc và Việt Nam quyết định thay đổi cách quản lý kinh tế. Đối với Việt Nam vào năm 1986, thái độ sẵn sàng thay đổi càng lớn hơn khi cải cách kinh tế ở Trung Quốc đã bước đầu thành công.

Ngoài ra, hai nước đều phải đối mặt với những khó khăn lớn khiến các cuộc cải cách của họ trở nên cấp thiết hơn. Lĩnh vực nông nghiệp của Trung Quốc suy giảm 1,8% trong năm 1976 và 2,2% năm 1977. Trong khi đó, Việt Nam chứng kiến cảnh thiếu lương thực trầm trọng, siêu lạm phát và trợ cấp giảm. Sản lượng lương thực trên đầu người hàng năm giảm từ 304kg (quy ra thóc) năm 1985 xuống còn 301kg năm 1986 và 281kg năm 1987. Tỷ lệ lạm phát cao phi mã: 90% năm 1985, 455% năm 1986, 361% năm 1987 và 374% năm 1988. Trợ giúp hàng năm tính theo đầu người mà Việt Nam nhận được giảm hơn 50%, từ 6 USD/người trong những năm 1978-1982 xuống còn 2,6 USD những năm 1983-1987.

Các cuộc cải cách ở hai nước trở nên khả thi nhờ một số nhân tố bên ngoài và bên trong. Đối với Trung Quốc, Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 đã mở đường cho Đặng Tiểu Bình trở thành hạt nhân của ban lãnh đạo đảng. Đối với Việt Nam, các chương trình cải cách cơ bản, được Mikhail Gorbachev phát động từ năm 1985 ở Liên Xô - sau này là mô hình phát triển kinh tế cho Việt Nam cũng như việc cung cấp các hỗ trợ chính cho người dân - nói trong chừng mực nào đó, đã gợi cảm hứng cho giới lãnh đạo Việt Nam. Hơn nữa, khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời năm 1986, Việt Nam chuyển sang giai đoạn cải cách mà Đại hội đảng VI hồi tháng 12/1986 đã đề ra.

Các bối cảnh tương tự nhau đã dẫn tới các cuộc cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam như đã nói ở trên là nền tảng cho thực tế là các cuộc cải cách ở cả hai nước mang tính kinh tế hơn là chính trị.

Về các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ban đầu, Trung Quốc và Việt Nam ở mức độ phát triển tương đương nhau trong nhiều lĩnh vực, trong đó có nguồn nhân lực cơ bản, kinh tế và cơ sở hạ tầng. Hai nước có tỷ lệ người biết đọc biết viết và có chế độ dinh dưỡng như nhau. Nếu tuổi thọ ở Trung Quốc cao hơn thì Việt Nam lại vượt về tỷ lệ người trưởng thành biết chữ và tỷ lệ người ở tuổi trung niên.

Nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam khi khởi động cải cách đều ở mức chưa phát triển, với GDP đầu người đạt 165 USD ở Trung Quốc và 203 USD ở Việt Nam. Bên cạnh cấu trúc GDP, lĩnh vực công nghiệp là chủ đạo ở Trung Quốc (48,2%), trong khi ở Việt Nam nông nghiệp là lĩnh vực chủ chốt (38,1%). Sự khác nhau này đặt ra cả ưu và nhược điểm cho cả hai nước trong giai đoạn đầu cải cách kinh tế. Đối với Trung Quốc, lĩnh vực công nghiệp rộng lớn, chủ yếu do nhà nước sở hữu, tạo ra nền tảng vững chắc hơn để công nghiệp hóa, song tính hiệu quả rất kém của nó - quá nhiều nhân công lại thiếu định hướng thị trường - đòi hỏi những nỗ lực lớn và thiện chí chính trị mạnh mẽ để cải cách. Đối với Việt Nam , lĩnh vực nông nghiệp nòng cốt có thể cho phép "nhảy cóc" với các dự án phát triển công nghiệp mới. Tuy nhiên, ngành công nghiệp nhỏ bé cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam gặp khó khăn khi tìm kiếm các nhân công lành nghề và xây dựng một mạng lưới công nghiệp phụ trợ ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa.

Về kinh tế nông thôn, 80% dân số của cả hai nước sống tại khu vực nông thôn, và hai nước đều có sản lượng ngũ cốc trên hecta tương đương nhau (2,802 kg đối với Trung Quốc và 2,715 kg đối với Việt Nam). Nền kinh tế cả hai nước đều mở cửa ở mức rất thấp và có cơ sở hạ tầng yếu kém khi bắt đầu tiến hành cải cách. Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP đạt 6,6% ở cả hai nước. Tỷ lệ người sử dụng điện thoại (tính trên 1.000 dân) là 1,3 ở Việt Nam và 2,0 ở Trung Quốc.

Trong khi các cuộc cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam được khởi động dưới sức ép của sự thất vọng về kinh tế và nhu cầu rất lớn phải tìm ra một con đường mới để xây dựng nền kinh tế, quan tâm lớn của lãnh đạo hai nước là duy trì ổn định chính trị và quyền lực tuyệt đối của đảng Cộng sản. Kết quả là, để xác định tính hợp pháp của hệ thống chính trị, hai nước chọn cách tiến hành cải cách "từng bước" với mục tiêu đặc biệt là tăng trưởng kinh tế. Về mặt này, hai bên có một số tương đồng lớn:

- Khởi động cải cách là quyết định bước ngoặt của đảng Cộng sản với một đội ngũ lãnh đạo mới.

- Quản lý lĩnh vực nông nghiệp: hai nước đều đưa vào một "hệ thống trách nhiệm thỏa thuận với hộ gia đình". Bước này đã biến hộ ra đình thành một đơn vị sản xuất, khích lệ nông dân nỗ lực tối đa. Điều này chính thức diễn ra ở Trung Quốc năm 1980 và ở Việt Nam năm 1988, tức là khoảng hai năm sau khi phát động cải cách ở hai nước.

- Hợp pháp hóa sự hình thành và phát triển của lĩnh vực tư nhân. Bước này được Trung Quốc thực hiện năm 1982 thông qua sửa đổi hiến pháp, đặt lĩnh vực tư nhân là "một thành phần bổ sung của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa". Việt Nam cũng làm theo năm 1990 với việc ban hành Luật Công ty.

- Các cuộc cải cách doanh nghiệp vừa và nhỏ (SOE) và "nâng cấp sân chơi" được tiến hành theo ba bước. Giai đoạn đầu (1979-1984 đối với Trung Quốc và 1987-1994 đối với Việt Nam ) tập trung trao cho SOE quyền tự quyết nhiều hơn và làm cho các doanh nghiệp này hướng vào thương mại hơn trong khi xóa bỏ nền kinh tế chỉ huy. Bước hai (1985-1993 đối với Trung Quốc và 1994-1998 đối với Việt Nam ) nhằm tái cấu trúc SOE trong khi thiết lập một khung pháp lý cho các doanh nghiệp này hoạt động trong một nền kinh tế thị trường. Giai đoạn ba (từ 1994 tại Trung Quốc và từ 1999 tại Việt Nam ) nhằm nâng cấp sân chơi cho tất cả các tác nhân trong nền kinh tế và tăng tốc khối tư nhân.

- Hai nước đã tích cực tận dụng toàn cầu hóa, nỗ lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thúc đẩy xuất khẩu. Cả hai đều ban hành các đạo luật thu hút FDI ngay sau khi phát động cải cách (năm 1979 ở Trung Quốc và 1987 ở Việt Nam ).

- Các cuộc cải cách tài chính. Cả hai nước đã bắt đầu cải cách lĩnh vực ngân hàng, tách các ngân hàng thương mại lớn của nhà nước khỏi ngân hàng trung ương và đặt chúng vào một nền tảng thương mại nghiêm ngặt hơn với việc thành lập thị trường chứng khoán và các ngân hàng tư nhân. Phải mất hơn một thập kỷ kể từ khi bắt đầu cải cách, hai nước mới cho ra đời thị trường chứng khoán đầu tiên của mình (Trung Quốc năm 1990 và Việt Nam năm 2000).

Hai nước có những khác biệt đáng kể, như quy mô dân số, các đặc điểm lịch sử và tính hiệu quả của đội ngũ lãnh đạo. Các yếu tố dân số và lịch sử tạo cho mỗi nước một số ưu điểm, được cho là có một tác động đáng kể tới thành quả kinh tế. Dân số đông khiến Trung Quốc có sức hút lớn về thị trường và nguồn lao động cả lành nghề và phổ thông. Thời kỳ phát triển hòa bình lâu dài của Trung Quốc cũng khiến hệ thống chính trị của họ ít phải quan tâm tới di sản chiến tranh và tập trung hơn vào phát triển đất nước. Phía bên kia, dân số ít hơn khiến Việt Nam nhanh nhẹn hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam có một lợi thế là "người đến sau", cho phép họ nghiên cứu và học hỏi từ các kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc mà không phải trả một giá nào. Sự nổi lên của Trung Quốc cũng biến Việt Nam thành một điểm đến thu hút FDI vì các nhà đầu tư nước ngoài luôn muốn đa dạng hóa đầu tư của mình với mô hình "Trung Quốc cộng một".

Như vậy, mỗi nước đều có thể tận dụng một số lợi thế đáng kể từ các đặc điểm của mình để thúc đẩy các thành quả kinh tế.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.