Thành Hồ
Sách Đại Nam nhất thống chícủa Quốc Sử quán triều Nguyễn viết về ngôi thành này như sau: “Thành cổ An Nghiệp: ở phía bắc sông Đà Diễn, thuộc xã An Nghiệp, huyện Tuy Hoà, chu vi 1400 trượng; tương truyền do người Chiêm Thành xây, tục gọi Thành Hồ. Năm Mậu Dần (1578) đời Thái Tôn bản triều, quận công Lương Văn Chánh đánh lấy được thành này, nay vẫn còn nền cữ” (1).
Thành Hồ - Bản vẽ của H.Parmentier năm 1909 |
Qua khảo sát hiện trạng cho thấy Thành Hồ có bình đồ gần chữ nhật, được xây theo chính bốn hướng, dựa theo thế núi sông. Phía nam là sông Đà Rằng rộng lớn, phía tây được che chắn bởi dãy núi cao với đỉnh cao nhất là núi Mặt Ông, phía đông và phía bắc bên ngoài những tường thành kiên cố là đồng bằng rộng lớn. So với các thành cổ Chămpa đã được phát hiện và nghiên cứu ở các tỉnh miền trung, Thành Hồ còn lại dấu tích khá rõ nét với bờ thành phía đông dài 785m, bờ thành phía bắc dài 742m, bờ thành phía nam bị sông xói lở còn lại 250m. Các bờ thành cao từ 3-5m, mặt rộng 6-7m, chân choãi ra rộng 20-30m. Trên mặt các bờ thành còn lại nhiều vết tích các tháp canh và công sự phòng thủ nhô cao 4-5m. Bên ngoài các bờ thành có dấu vết hệ thống hào nước bao quanh. Trong khu thành còn có dấu vết một bờ thành giữa chạy theo hướng Bắc Nam, song song và cách tường thành phía đông 700m, chia Thành Hồ thành hai khu, khu đông và khu tây. Trong khu tây có một quả đồi gọi là Hòn Mốc, sườn đồi có một khoảng đất bằng phẳng, có nhiều gạch Chăm vỡ, nhân dân gọi là sân Cột Cờ. Ở đỉnh Hòn Mốc có dấu tích của một kiến trúc đã bị đổ nát.
![]() |
Hiện vật khai quật Thành Hồ |
Qua lát cắt tường thành phía đông cho thấy cấu trúc tường thành có 3 lớp. Lớp trong cùng được đắp bằng đá tự nhiên trộn lẫn với đất, ở hai mặt có xây gạch bó vững chắc. Lớp giữa giữ nguyên độ cao nhưng đắp bổ sung ở hai mặt, làm tăng độ dày của tường thành, vật liệu đắp là loại đất có màu xám thuần nhất được đầm chặt. Lớp ngoài cùng được đắp cao và dày thêm tạo nên hiện trạng tường thành như hiện tại, ở lớp này vật liệu đắp thành là mảnh gạch vỡ, mảnh ngói, mảnh gốm trộn với đất đầm chặt tạo nên sự vững chắc và ổn định.
Căn cứ vào di tích vật chất và những cứ liệu khảo cổ học, các nhà nghiên cứu đã xác định Thành Hồ được xây dựng vào khoảng thế kỷ V-VII, được trùng tu gia cố và được sử dụng liên tục trong suốt lịch sử tồn tại của vương quốc cố Chămpa. Bên cạnh vai trò về chính trị, quân sự như những toà thành khác, Thành Hồ còn có một chức năng rất đặc biệt, Thành Hồ án ngữ tại cửa ngõ thông thương giữa biển với vùng cao nguyên (châu Thượng Nguyên) rộng lớn theo đường sông Đà Rằng. Sông Đà Rằng là con đường thuỷ quan trọng, không chỉ là con đường giao thương chủ đạo mà còn là dòng chuyển tải văn hoá giữa các vùng lãnh thổ. Dọc theo đôi bờ sông Đà Rằng từ hạ lưu ngược lên thượng nguồn, có sự hiện diện phong phú của nhiều di tích và di vật văn hoá Chămpa, cụ thể như: tháp Nhạn, bia Chợ Dinh, phế tích tháp Đông Tác (thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên), phế tích tháp Bà (huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên), tháp Yang Mun (huyện Ayun Pa tỉnh Gia Lai), điêu khắc đá ở Đắc Bằng (huyện Krông Pa , tỉnh Gia Lai),…
Thành Hồ đã được Bộ Văn hoá - thông tin công nhận là di tích cấp quốc gia vào tháng 8-2005, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề về lịch sử văn hoá của vùng đất Phú Yên và các khu vực lân cận.
______________
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập 3, Nxb Thuận Hoá, 1996, trang75.
2. H.Parmentier, Thống kê Khảo tả các di tích Chăm ở Trung kỳ, Paris , 1909, trang 194-195.










