Tăng thu hút FDI vào nông - lâm - ngư nghiệp: Cần đổi mới chính mình
Thừa tiềm năng, sao lại giảm?
Quý I /2007, cả nước đã thu hút 2, 5 tỷ USD vốn FDI nhưng hầu hết các nhà đầu tư chỉ quan tâm đến những dự án bất động sản như hạ tầng du lịch, văn phòng, khách sạn, khu đô thị, căn hộ cao cấp...
Tính đến hết năm 2006, tỷ trọng đầu tư FDI trong nông -lâm -ngư nghiệp chỉ chiếm 6,65% trong số những dự án còn hiệu lực. Cơ cấu phân theo ngành là trồng trọt 8,2%; chế biến nông sản thực phẩm 49,2%, chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc 11,6%; trồng rừng và chế biến lâm sản 22,6%; nuôi trồng và chế biến thuỷ sản 8,4%. Đáng buồn hơn là những chỉ số về FDI trong lĩnh vực này đang có xu hướng giảm (chỉ thu hút được 11/196 dự án trong tháng 3/2007). Bên cạnh đó, việc phân bổ vốn FDI cũng không đồng đều giữa các vùng miền, cao nhất là Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, thấp nhất là vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên.
Năm 2006 được coi là năm bứt phá của Hà Tây trong thu hút FDI, với 19 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 794, 9 triệu USD, gấp 100 lần năm 2005. Hiện tỉnh có 75 dự án FDI có hiệu lực, tổng số vốn đăng ký 1, 41 tỷ USD. Tuy nhiên, phần lớn các dự án tập trung vào công nghiệp, xây dựng (64,8%); dịch vụ (17,6%); nông -lâm nghiệp cố gắng lắm cũng chỉ bằng dịch vụ.
|
Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp ra đời, cùng với môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, Lâm Đồng liên tiếp được các nhà đầu tư “để mắt” tới, trở thành một trong những địa phương đi đầu trong phát triển công nghiệp. Toàn tỉnh hiện có 55 doanh nghiệp FDI, nhưng chỉ có 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông -lâm -ngư nghiệp.
Năm qua, Đồng Nai cũng thu hút được 69 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 271 triệu USD nhưng lĩnh vực nông -lâm -ngư nghiệp chỉ chiếm con số khiêm tốn, trên 10 doanh nghiệp, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông sản và thức ăn gia súc.
Đi tìm nguyên nhân
Lý giải về sự giảm sụt FDI trong nông -lâm -ngư nghiệp, ông Trần Văn Công, chuyên viên của Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho rằng: Trước tiên là do sự yếu kém trong hệ thống quản lý của ngành nông nghiệp. Cụ thể là chưa có chiến lược, cơ chế, đề xuất các dự án, ngành chưa theo dõi sát sao để giúp đỡ, giải quyết kịp thời những vướng mắc trong quá trình xúc tiến và thực hiện các dự án FDI, thiếu sự phối hợp giữa ngành và các địa phương.
Bên cạnh đó, năng lực sản xuất của người dân ở các địa phương còn thấp, tính rủi ro trong sản xuất cao do Việt Nam nằm trong khu vực chịu nhiều tác động xấu của thời tiết. Cơ sở hạ tầng và trình độ lao động ở nông thôn chưa đủ hấp dẫn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông -lâm -ngư nghiệp chưa đủ năng lực để chủ động kêu gọi FDI nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo thị trường của riêng mình. Trong khi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cả hai vấn đề chất lượng sản phẩm và thị trường lại là yếu tố tiên quyết để cạnh tranh.
Nguyên nhân cuối cùng là do chính sách của Nhà nước chưa thực sự tạo ưu đãi cho nhà đầu tư, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Vấn đề tích tụ ruộng đất để có vùng sản xuất lớn là yếu tố quyết định để thu hút FDI ở các địa phương lại rất khó thực hiện do chính sách đền bù, thuế và chế độ ưu đãi chưa rõ ràng. Các tỉnh thu hút mạnh FDI thường chỉ chú trọng đến các lĩnh vực dễ “ăn” như công nghiệp và dịch vụ và thường bỏ qua lĩnh vực nông -lâm -ngư nghiệp vốn là tiềm năng của nhiều địa phương. Nhà nước cũng chỉ tập trung ưu tiên cho công nghiệp, dịch vụ, công nghệ cao mà “quên” mất các dự án liên quan đến nông -lâm -ngư nghiệp. Tỉ lệ bảo hộ thực tế đối với nông sản lại quá thấp (dưới 3%) so với hàng công nghiệp (có khi lên tới trên 200%), hệ thống bảo hiểm nông nghiệp hầu như không hoạt động khiến nhà đầu tư “ngần ngại” khi đổ tiền vào lĩnh vực vốn nhạy cảm và nhiều rủi ro này.
Cần xác định lĩnh vực ưu tiên
Từ những vấn đề trên, mục tiêu huy động 1, 5 tỷ USD vốn FDI cho nông -lâm -ngư nghiệp giai đoạn 2006-2010 xem ra khó đạt nếu không sớm tìm ra những giải pháp kịp thời. ông Lê Hồng Thái, Vụ trưởng Vụ Kinh tế Nông nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng: “Để đạt được mục tiêu này, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chúng ta phải xác định lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn FDI”.
Ông Công cho rằng: “Để lĩnh vực nông -lâm nghiệp thu hút được nhiều vốn FDI, cần tiến hành xây dựng chiến lược, quy hoạch cho từng ngành. Lập hệ thống quản lý và xúc tiến FDI, bao gồm: hình thành cơ chế, đề xuất, phê duyệt, các tiêu chí xếp hạng ưu tiên các dự án; xác định mức độ phân cấp, phân quyền trong ngành về quản lý; tăng cường thông tin đối ngoại như xây dựng hệ thống tham tán nông nghiệp tại nước ngoài, xây dựng hệ thống đầu mối tại các tỉnh, các vùng; thành lập trung tâm và quỹ xúc tiến đầu tư và thương mại nông nghiệp do Bộ điều hành”.
Ngoài ra, cần dùng kinh phí trong nước kết hợp nguồn ODA vốn hỗ trợ phát triển chính thức và viện trợ phi chính phủ để phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề cho khu vực nông thôn. Tăng cường năng lực phân tích và tiếp thị, phát triển sản phẩm, thương hiệu nông sản Việt Nam bằng việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Thực hiện các nghiên cứu về các điều kiện thực tế khi thu hút FDI trong nông nghiệp, nông thôn như các chính sách sử dụng đất, thuế, tín dụng, và các chế độ ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp; ưu tiên của Chính phủ về FDI cho nông nghiệp, nông thôn nên được thể hiện bằng các chính sách; các biện pháp bảo hộ khả thi đối với nông - lâm sản và các ngành nghề kinh tế ở nông thôn phù hợp với bối cảnh và lộ trình hội nhập.
Thông qua những định hướng trên của ngành, ông Công đề xuất, cần đưa các hành động thu hút FDI vào chiến lược kế hoạch 5 năm của ngành. Cụ thể, các đơn vị của bộ, các sở, tổng công ty cùng tham gia xây dựng các dự án trọng điểm; phát triển hệ thống quản lý FDI trong ngành, bao gồm cả cơ chế hình thành danh mục ưu tiên thu hút FDI và hệ thống hỗ trợ xúc tiến đầu tư, trong đó cần xây dựng hệ thống tổ chức, xây dựng thể chế, quy trình công tác, tăng cường năng lực vận hành. Hay nói cách khác, ngành nông nghiệp cần đổi mới chính mình để nhà đầu tư có thể nhìn thấy tiềm năng.








