Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 09/01/2006 23:42 (GMT+7)

Sự thật và huyền thoại về hợp chất 'ô dước'

Chất kết dính của "thạch mộ"

Đó chính là hợp chất có tên gọi "ô dước". Hợp chất này, trước khi đắp lên mộ ở thể lỏng sền sệt như nham thạch của núi lửa, hoặc ươn ướt như keo dán. Nhưng sau đó, khi đắp xong, thì khô đặc lại và các chất tổng hợp giã nát trong đó tự kết dính, quyện vào nhau và hút chặt lấy nhau thành một khối cực kỳ rắn chắc "bất khả phân ly". Dùng búa nện xuống, búa cơ hồ dội ngược lên, khó mà bể được. Nhìn bên ngoài, chúng thường có màu trắng đục, hoặc xám lợt, nên nhiều người nhầm lẫn cho đó là đá khối. Văn bản của Sở Văn hóa - Thông tin TP.HCM ký ngày 4/10/2004 cho phép UBND quận 10 bốc dỡ cũng gọi mộ cổ đường Nguyễn Tri Phương là "mộ đá". Thật ra, đó là "mộ hợp chất", một thuật ngữ khá quen thuộc của các nhà khảo cổ nước ta nhằm chỉ những mộ đắp bằng "tổng hợp của nhiều chất" mà theo TS Phạm Đức Mạnh gồm có :
1. Vôi (vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò, san hô nghiền vụn).
2. Cát.
3. Chất kết dính như mật, mật đường, mật ong, nhựa dây tơ hồng.
4. Giấy dó.
5. Than hoạt tính...

Mỗi chất trên lại phải chế biến theo yêu cầu riêng. Như vôi phải là loại chưa nung, tức vớt lấy vỏ sò, hoặc san hô ở biển về để "tươi" như thế, bỏ vào cối bằng đá, dùng chày đẽo bằng gỗ lim là loại gỗ cứng như sắt (thiết mộc) để giã thiệt nát, thành bột gọi là "vôi sống" (chứ "vôi chết" đã nung sẽ không dùng được vì thiếu độ quyện chặt các chất khác). Khi nhu cầu về số lượng bột "vôi sống” chế tạo theo cách trên quá cao để sử dụng cho những công trình kiến trúc mộ lăng đồ sộ thì việc sản xuất "vôi sống" quả là rất cực nhọc, nên nhà khảo cổ lão thành Đỗ Đình Truật đã nhắc: "Thợ giã vôi làm lăng Tự Đức do chịu đựng mưa nắng nhiều ngày và quá nặng nề nên đã nổi dậy chống triều đình, bị tầng lớp quan lại gọi nôm na giặc chày vôi là do vậy".

Về mật ong, ông Đỗ Đình Truật bảo thời trước, khi thiên nhiên chưa bị tàn phá, rừng nước ta phong phú, đủ sức cung cấp mật tự nhiên. Sau này mật ong hiếm hơn, có thể dùng mật đường thay thế. Ngoài vôi và mật nói trên, cần trộn vào kết cấu của hợp chất một thành phần khác là cát, hoặc sỏi sạn nhỏ li ti. Và để hút ẩm, giữä khối vôi sống khô đặc, người ta thêm than hoạt tính, giã nhỏ bằng hạt đậu, hạt bắp. Tất cả trộn đều trong một thứ nước đặc biệt. Đó là nước nhớt của cây bời lời. Cây này khi ra trái, tu hú và các loại chim khác thường thích tới ăn. Nếu không có bời lời, người ta sẽ kéo dây tơ hồng mọc dày hàng lớp màu vàng ruộm trên hàng rào, hoặc mọc trùm lên ngọn chè tàu xuống, đem ngâm trong nước 7, 8 ngày. Nước ngâm tơ hồng sau đó sẽ trở nên nhớt nhợt như nước canh mồng tơi nấu đặc. Thứ nước đặc chế này rất quan trọng vì đóng vai trò là "chất xúc tác cơ bản" len lỏi và nhuần thấm qua các thành phần khác như vôi, cát, than, mật để kết dính tất cả thành một khối "đá" nhân tạo, lớn nhỏ tùy theo khối lượng nguyên liệu, dùng phủ kín nấm huyệt, đáy huyệt, gọi là chất nước "ô dước".

Huyền thoại chất "bí mật"

Trên đây đã kể ra những thành phần "ắt có" nhưng chưa đủ! Vậy còn thiếu gì? Cần nhớ một điều, khi đã có đủ trong tay các thành phần kể trên, người kỹ sư ngày xưa vẫn chưa thể hướng dẫn các tốp thợ dưới quyền đắp "mộ hợp chất" được, nếu họ còn thiếu công thức tác hợp chúng. Nghĩa là không thể tùy tiện pha trộn các thành phần đó thế nào cũng được. Mà phải "phối hợp" tất cả các chất ấy theo công thức chế biến và thêm các chất liệu đặc biệt (bí truyền, gia truyền) của từng vùng, miền, địa phương, tộc người. Nhưng tới nay "chất cuối cùng" có tính chất quyết định đến sự rắn chắc của hợp chất, cũng như công thức và bí quyết hoàn thành "ô dước" vẫn còn nằm trong bí mật vì đã thất truyền. Chính vì thế trong dân gian xuất hiện những câu chuyện thêu dệt đầy màu sắc huyền thoại quanh chất "ô dước" cũng như "mộ hợp chất truyền kỳ".

Đến đây, vấn đề xem ra đã đụng tới không chỉ lĩnh vực khảo cổ học, mà cả dân tộc học và văn học. Các quan niệm siêu hình xuất phát từ một góc tâm linh nào không rõ, đã truyền khẩu về tính chất tượng trưng của các thành phần hợp chất. Cụ thể: nghêu sò, san hô làm ra vôi (hợp thủy), cát (hợp thổ), than (hợp hỏa), thân cây bời lời hoặc dây tơ hồng (hợp mộc). Vậy so với "ngũ hành" vẫn còn thiếu một chất tượng trưng nữa là: kim ? Từ chỗ trống này người ta quay ra nghi ngờ và đặt dấu hỏi phải chăng "chất cuối cùng" để khối kết dính "ô dước" trở nên cực kỳ rắn chắc chính là một thứ bột vật chất có nguồn gốc kim loại như vàng, bạc, đồng đen? Làm thế nào mà kỹ thuật ngày nay không dò ra thành phần "kim" đó? Phải chăng thuộc về "siêu kỹ thuật" thất truyền. Mà câu chuyện cổ dưới đây phảng phất hương vị "hợp chất" đang tìm. Ngày nọ trong phút cận tử nghiệp (hấp hối), một vị đại quan thấy con quỷ Vô thường bước qua ngạch cửa, đi qua đi lại quanh sập gỗ mình nằm. Vị này đầu óc chưa mê man hẳn, nên ngạc nhiên, thấy con quỷ đến từ Thập điện Diêm vương không chịu bắt mình đi, mà cứ loay hoay dòm dưới chân, rồi ngửa mặt lên trời như đang tìm thứ gì. Chốc sau một phán quan mặt mày hung tợn đen đủi xuất hiện, tới gần sập, hỏi lớn: "Đã bắt chưa?". Để trả lời, quỷ Vô thường đưa hai tay ra. Một bàn tay có chất lỏng quến đặc là mật ong, nói: "Đã lên rừng", tay kia có một miếng vôi trắng, nói: "Đã xuống biển", rồi lắc đầu tỏ ý rằng mình "lên rừng xuống biển" vẫn chưa tìm ra linh hồn người chết. Vị phán quan rút trong tay áo cuốn sổ màu đỏ, dò đi dò lại, quát: "Thôi, về. Phước quang đã che mất tử hồn, tìm không thể thấy. Cho sống lại". Phước quang là ánh sáng của phước báu tích tụ từ những việc thiện đã làm trong một kiếp người, bừng sáng khi sắp chết, có công năng làm chói mắt quỷ Vô thường. Nó tượng trưng cho "tấm lòng vàng". Cũng là ám chỉ nghĩa đen của phú quý: "vàng son". Vị đại quan kia quả nhiên thoát khỏi tay sứ giả của Diêm vương, qua cơn nguy ngập và sống lại. Từ đó, dòng tộc của ông lấy "ô dước" đắp mộ cho thân quyến đã qua đời, với mong muốn quỷ Vô thường liên tưởng tới phước báu của người chết, để nếu không được sống thêm một thời hạn nữa, thì cũng đầu thai vào cảnh giới lành, thuộc nhà quyền quý.

Tính đến nay, mộ hợp chất phát hiện được nằm từ Bắc chí Nam , phía Bắc ít, kể từ miền Trung và tỉnh Bình Thuận đổ vào mật độ dày hơn. Loại mộ này xuất hiện cách đây khoảng 5 thế kỷ. Theo nhà sử học, khảo cổ học Đỗ Văn Ninh, mộ hợp chất có niên đại lâu đời nhất được khai quật là mộ thân mẫu vua Lê Nghi Dân chôn ở Nhân Giả (Hải Phòng). Loại mộ này thường chứa xác ướp và xác ướp có địa vị cao nhất, được tìm thấy là của vua Lê Dụ Tông ở Bái Trạch (Thanh Hóa). Tại Huế và TP.HCM, lắm trường hợp kẻ trộm gan lì và đã đào sâu xuống mộ hợp chất lấy đi những đồ quý giá chôn theo.

Nguồn: ashui.com

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.