Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 10/01/2013 20:56 (GMT+7)

Sự khác biệt trong nghiên cứu giữa ta và 'tây'

      >> Cách làm tạp chí trong nước hạn chế công bố quốc tế

>> Việt Nam nhiều tiến sĩ, ít công trình nghiên cứu

>> Không đọc được nghiên cứu quốc tế, làm sao phát triển?

>> Người Việt ở nước ngoài có nhiều bài đăng tạp chí quốc tế

Độc giả Tuyết Trần, cán bộ trường Đại học quốc gia Hà Nội, hiện đang học tập và làm việc tại Australia nhận định, Việt Nam có ít bài báo quốc tếlà do Việt Nam chưa có tạp chí nào được coi là 'tạp chí quốc tế', đa phần trong các dữ liệu khoa học Tây phương không có tên một tạp chí khoa học nào của Việt Nam. Hiện tại nếu dùng Google Scholar để tra cứu các bài viết về Việt Nam, chỉ có các bài viết trong hệ thống tài nguyên số của Đại học Quốc gia Hà Nội hiện diện trên bảng kết quả tìm kiếm, nhưng cách làm như vậy tạo rất nhiều khó khăn cho người đọc khi lục tìm thông tin cho phần tài liệu tham khảo, vì thường các thông tin không hiện diện đầy đủ trên bài báo.

Tôi là người may mắn được đọc khá nhiều bài viết của người Việt trên các tạp chí Việt. Tôi thấy có nhiều bài viết chất lượng và "rất đáng đọc". Theo tôi nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các thành quả khoa học Việt không đến được với độc giả ngoài nước và không được nhìn nhận trên bình diện rộng hơn khuôn khổ quốc gia. Ngoài lý do về rào cản ngôn ngữ và sự chậm "quốc tế hóa" của phần lớn các tạp chí trong nước, hai yếu tố cơ bản tôi cho nguyên nhân hạn chế sự xuất hiện của các bài báo khoa học có chất lượng của người Việt trên thị trường tri thức đa quốc gia là: tư duy nghiên cứu và môi trường nghiên cứu.

Tư duy nghiên cứu

Tư duy nghiên cứu của người Việt thông thường đi theo chiều hướng miêu tả, diễn giải, lập luận và kết luận. Vai trò của người viết nằm chính trong các lập luận đó. Người viết bằng kinh nghiệm, kiến thức bản thân hoặc căn cứ vào kết quả của các cuộc điều tra đưa ra lập luận thuyết phục người đọc. Chính lối tư duy này nên các tài liệu tham khảo chủ yếu dùng để củng cố các luận điểm của tác giả nhiều hơn là để tạo cơ sở nghiên cứu cho đề tài. Vì vậy mà khi tôi gửi một bài viết cho tạp chí được tính điểm cao nhất trong các tạp chí giáo dục ở Việt Nam và nhờ người bạn tới tận tòa soạn hỏi ý kiến sơ bộ về bài viết đó thì được báo rằng: bài viết dài quá, đề nghị sửa ngắn lại và phần tài liệu tham khảo không nên có trên 10 tài liệu. Tôi đành rút bài viết vì không thể làm nó phù hợp với yêu cầu tòa soạn.

Khác với Việt Nam, ở các nước phương Tây, việc xây dựng cơ sở nghiên cứu dựa trên các tài liệu khoa học trong cùng lĩnh vực là vô cùng quan trọng. Nhiều khi người ta chỉ cần nhìn vào danh mục tài liệu tham khảo của bài báo là biết tác giả đó hiểu đề tài đó đến đâu. Trình tự trình bày một bài báo khoa học ở các nước này cũng đòi hỏi rõ ràng, các luận điểm đưa ra phải có căn cứ. Ý chính của các đoạn phải nêu cụ thể, rõ ràng ở phần đầu mỗi đoạn (thường gọi là topic sentence), ý thường phải ở tại ngôn.

Vì vậy sinh viên Việt Nam đi làm nghiên cứu sinh nước ngoài giai đoạn đầu hay bị mắc lỗi miêu tả quá chi tiết khi viết. Cách tư duy khác biệt nên nhiều tác giả Việt Nam gửi bài đi các tạp chí nước ngoài hay bị từ chối. Hiện tôi đang làm công việc như một độc giả phản biện một số tạp chí như Studies in Higher Education, Higher Education, The Asia-Pacific Education Researcher và Journal of the World Universities Forum. Tôi cũng được mời tham gia phản biện cho một số bài viết của Việt Nam. Dù một số bài viết đề cập tới một số chủ đề rất hay, dù một số biên tập viên của vài tờ báo có thiện chí với việc xuất bản các bài viết về Việt Nam, nhưng do cách tư duy và cách viết có sự khác biệt cộng với sự hạn chế trong việc diễn đạt ý bằng tiếng Anh, nên tôi chưa lần nào có được niềm vui kích vào nút "chấp nhận" cho các bài viết này. Đương nhiên tôi chỉ là một trong nhóm người biên tập và ý kiến của tôi cũng chỉ là ý kiến tham khảo.

Môi trường nghiên cứu

Trên cả bình diện vật chất và tinh thần, Việt Nam chưa tạo dựng được môi trường phát triển nghiên cứu. Một phần nguyên nhân do lịch sử để lại khi các trung tâm nghiên cứu xây dựng theo mô hình Liên Xô cũ, tách biệt khỏi các trường đại học. Vì vậy những người có kinh nghiêm thực tế thường không có "trách nhiệm" nghiên cứu, còn những người không có kinh nghiệm hoặc kinh nghiệm đã cũ, lỗi thời thì lại làm công tác nghiên cứu. Với lối tư duy nghiên cứu dựa vào kinh nghiệm như ở Việt Nam, sự tồn tại riêng biệt của hai đơn vị này hạn chế khá nhiều công cuộc phát triển nghiên cứu khoa học nước nhà.

Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ đang nỗ lực xây dựng một số trường đại học nghiên cứu, nhưng chắc còn lâu lắm mới có thể thành hiện thực vì nhiều lẽ. Tôi đang làm việc ở một trường được đầu tư để trở thành trường đầu ngành nghiên cứu. Cách đây vài năm tôi đăng ký làm công trình cấp trường, số tiền tôi nhận được chưa tính chi phí chỉ bằng cô bé đồng nghiệp đi dịch ca-bin trong vài buổi.

Vật chất chưa thể tạo động lực cho người giảng viên tham gia công tác nghiên cứu khoa học, tinh thần động viên khoa học còn đáng thất vọng hơn. Sau một năm tâm huyết với đề tài có trị giá bằng vài buổi dịch ca-bin ấy sẽ là một buổi bảo vệ với vài "thành viên đọc" và những lời nhận xét chung chung. Sau đó tôi sẽ phải in đề tài, đóng bìa đẹp và nộp cho phòng khoa học để "bỏ vào tủ lưu hồ sơ". Dù được khen hay chê thì thậm chí cả các đồng nghiệp cùng khoa hay cùng phòng tôi đều không quan tâm lắm tới đề tài của tôi, vì họ có nhiều cái thiết thực đáng để quan tâm hơn cái đề tài của tôi nhiều.

Ở hầu hết các bài viết tôi đã đọc trong chuyên mục, không có bài nào đề cập tới sự so sánh giữa ta và các nước láng giềng có nền văn hóa và trình độ phát triển tương đồng, phần lớn các tác giả so sánh việc làm khoa học của người Việt với các nước phát triển phương tây. Việc so sánh này, với tôi, không khác lắm với việc so sánh lưu lượng xe cộ ở Mù Căng Chải và ... thành phố Hồ Chí Minh. (Tuyết Trần)

Điều này khác hẳn với những cảm nhận của tôi khi làm việc ở bên Australia. Nơi tôi làm việc chỉ là một trường cao đẳng, không có chức năng nghiên cứu như một trường đại học, nhưng khi tôi có một bài báo đăng trên tạp chí ngành, tức chỉ là tạp chí quốc gia, chưa thể xếp vào tạp chí quốc tế, bà hiệu trưởng của trường đã viết email cho tất cả nhân viên trong trường giới thiệu và chúc mừng bài viết của tôi. Rồi tôi nhận nhiều lời chúc mừng của đồng nghiệp, nhiều người còn gặp mặt, nói chuyện, thậm chí viết email cho tôi bàn về vấn đề tôi đề cập trong bài viết.

Ở Việt Nam, dường như giảng viên đại học được coi trọng hơn cán bộ nghiên cứu chuyên trách trong trường. Khi làm nghiên cứu, ngoài số tiền thù lao ít ỏi, gần như người làm nghiên cứu không được quyền lợi gì thêm - ngoại trừ khi người đó đang có mục đích gom thêm điểm để lấy học hàm Phó giáo sư/Giáo sư. Ở các nước phương Tây, người có khả năng xuất bản luôn được đánh giá cao hơn rất nhiều những người chỉ giảng dạy đơn thuần. Nếu một giảng viên có nhiều bài xuất bản, có hệ số ảnh hưởng (Impact factor) cao, sẽ được giảm giờ giảng dạy trực tiếp, tăng lương, tăng chức, được các trường khác mời mọc, và dễ dàng nhận được các tài trợ có giá trị tới vài năm lương. Các trường có xếp hạng cao về nghiên cứu thường nhận số tiền nghiên cứu từ ngân sách cao tới hàng chục lần so với các trường ở tốp dưới.

Khi Việt Nam vẫn còn bao cấp công tác xuất bản báo chí khoa học, khi các sản phẩm của khoa học không được nhìn nhận, đánh giá và áp dụng vào thực tế, khi nghiên cứu vẫn còn là cơ chế xin cho và khi tiếng Anh vẫn được dạy ì ạch như hiện nay, việc để Việt Nam "sánh vai với các cường quốc năm châu" trong lĩnh vực xuất bản các bài báo khoa học sẽ còn xa vời vợi.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.