Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 06/08/2007 17:38 (GMT+7)

Sự hòa hợp các giá trị tinh thần châu Á - một cái nhìn từ Việt Nam

Thế rồi, vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất Trước Công nguyên, gần như là đồng thời, ở Ấn Độ cũng như Trung Quốc, một sự phát triển mạnh mẽ văn hóa vật chất và tinh thần đó đưa đến sự nở rộ nhiều trào lưu tư tưởng - tôn giáo phong phú. Sự “được mùa” tinh thần này gắn liền với không khí tự do tư tưởng đương thời, với những cuộc tranh luận công khai giữa các acarya ở Ấn Độ, với hiện tượng “bách gia tranh minh” ở Trung Hoa. Ngày nay, rõ ràng là chúng ta cần tìm hiểu nguồn gốc của không khí tự do đó.

Giữa các trào lưu tư tưởng - tôn giáo đó, vượt lên trên vì tỏ ra có sức sống hơn cả là Phật giáo và Nho giáo. Rồi từ quê hương của chúng, các hệ tư tưởng - tôn giáo này lan tỏa trên một khu vực rộng lớn của châu Á, đóng vai trò to lớn trong đời sống của nhiều dân tộc.

Việt Nam là một trong những nơi đồng thời đón nhận cả hai hệ thống triết học - tôn giáo này.

Trước khi tiếp nhận các ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, Việt nam đã có một văn minh của riêng mình. Đó là cái mà các học giả thường gọi là văn minh Đông Sơn. Gần đây, các nhà khảo cổ học tìm được cội rễ xa xưa của văn minh Đông Sơn. Chúng tôi gọi những nền văn hóa trước Đông Sơn và Đông Sơn đó dưới một cái tên chung: văn minh Sông Hồng. Đó là một nền văn minh của cư dân trồng lúa. Họ đã có một kỹ thuật chế tác đồ đồng thau và đồ sắt khá cao. Xã hội của họ đã phân tầng và một nhà nước sơ khai đã xuất hiện. Họ đã có một đời sống tinh thần phong phú, được biểu hiện qua di vật tiêu biểu là trống đồng.

Văn minh Sông Hồng đã có những mối liên hệ với các văn hóa khác ở Đông Nam Á. Ở văn minh này, cũng bắt đầu có những ảnh hưởng của Trung Quốc và Ấn Độ. Nhưng về bản chất, văn minh Sông Hồng là một văn minh Đông Nam Á, mang các đặc trưng Đông Nam Á.

Cho đến đầu Công nguyên, văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Quốc mới tác động mạnh mẽ đến vùng đất của người Việt cổ ở miền Bắc Việt Nam hiện nay. Nho giáo được những viên quan đô hộ người Hán du nhập, còn Phật giáo được những nhà sư Ấn Độ đưa tới. Từ đó, Phật giáo và Nho giáo dần dần cắm rễ trong đời sống tinh thần của người Việt Nam và phát triển qua nhiều thế kỷ. Nghiên cứu sự tiếp nhận và hòa hợp những hệ thống tư tưởng - tôn giáo này ở Việt Nam cũng góp phần vào việc làm sáng tỏ các vấn đề về các giá trị và di sản châu Á.

Mỗi một hệ thống triết học - tôn giáo, như chúng ta thấy, bao giờ cũng đồng thời là một hệ thống giá trị. Hệ thống này bao gồm ba loại giá trị: giá trị phổ biến, giá trị nhóm và giá trị cá nhân. Giá trị phổ biến là giá trị nhân loại hay đa phần nhân loại thừa nhận. Giá trị nhóm là giá trị của nhóm xã hội, trong đó có nhà tư tưởng sáng tạo ra hệ thống, thừa nhận. Nhưng một khi các hệ thống đó được truyền bá từ nơi này đến nơi khác thì cấu trúc của chúng không còn nguyên vẹn nữa. Những điều kiện xã hội – văn hóa ở nơi mà các hệ thống này du nhập đến sẽ làm biến đổi cấu trúc của chúng. Một hiện tượng thường xảy ra là các giá trị phổ biến tức giá trị nhân loại được giữ lại, còn các giá trị nhóm thì biến đổi cho phù hợp với tình hình nhóm xã hội ở vùng đất mới. Các yếu tố của hệ thống được tháo rời, làm biến đổi và sắp xếp lại. Chúng tôi gọi đó là hiện tượng tái cấu trúc hóa. Nhưng qua thời gian, kết cấu nhóm xã hội - mà nhóm quan trọng nhất là giai cấp - cũng biến chuyển. Vì vậy chỉ có các giá trị phổ biến trong các hệ thống tư tưởng – tôn giáo là có sức sống lâu dài hơn cả. Nho giáo và Phật giáo đều được tiếp nhận ở Việt Nam theo kiểu như vậy.

Ở Việt Nam , các giá trị phổ biến hệ thống từ ngoài dến trong đều được giữ gìn qua thời gian. Chẳng hạn, khái niệm nhântrong Nho giáo được hiểu như mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Khái niệm nghĩađược hiểu như trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng hay người khác. Và mệnh đề “ kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” (thấy việc nghĩa mà không làm là không có can đảm) luôn luôn là lời kêu gọi đấu tranh cho công lý.

Khi Phật giáo du nhập, người Việt Nam tìm thấy trong lời dạy của đức Phật lời kêu gọi hướng tới điều thiện, dứt bỏ cái ác, giữ mình không tham, sân, si, sống trong hòa bình an lạc.

Chính vì người Việt Namchú trọng tiếp nhận các giá trị phổ biến, nên trong lịch sử Việt Nam ít khi có sự xung đột mạnh mẽ giữa Phật giáo và Nho giáo. Ngay từ buổi đầu của sự du nhập, Mâu Tử, một học giả Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ II, tác giả tập sách Lý hoặc luân đã nói “Tôi kính trọng đạo Phật và tôi học Phật, nhưng không phải vì vậy mà tôi bỏ Nghêu Thuấn, Chu Công, Khổng Tử. Vàng và ngọc không gây tì vết cho nhau. Bích ngọc và mã não để chung với nhau không sao cả”. Ông còn nói: “Xe và thuyền không cùng đi một đường nhưng đều đưa người ta đến đích”.

Thậm chí những người cầm quyền ở Việt Nam ngay từ ngày xưa cũng đã biết sử dụng những ưu điểm khác nhau của các hệ thống tư tưởng du nhập này. Một ông vua vào thế kỷ XIII, Trần Thái Tông (1218 - 1277) đã viết: “Các phương tiện để mở lòng mê muội, cái đường lối để rõ lẽ tử sinh, ấy là giáo hóa của đức Phật. Làm cán cân chuẩn mực cho hậu thế, làm khuôn phép cho tương lai, ấy là trọng trách của đức Thánh (chỉ Khổng Tử - HVT)...

Trẫm ngày nay phải lấy trách nhiệm của đức Thánh làm trách nhiệm của mình, lấy lời dạy của đức Phật làm lời dạy của mình”.

Như vậy, trong suốt trường kỳ lịch sử phát triển nền văn hóa của mình, dân tộc Việt Nam có ý thức trong việc thu nhặt những bích ngọc và mã não trong di sản giá trị tinh thần châu Á. Sự khai phóng không những mang lại sự phong phú trong đời sống tinh thần của nhân dân mà còn tìm thêm sức mạnh để vượt qua những thử thách đối với vận mệnh đất nước. Kinh nghiệm lịch sử cho hay rằng cứ mỗi lần “bế quan tỏa cảng” là chúng tôi đi đi đến thất bại.

Dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh cho tự do và độc lập của mình, đã tạo nên các giá trị dân tộc. Các giá trị nhân loại nói chung, các giá trị tinh thần châu Á nói riêng, một khi được đưa vào đời sống Việt Nam , là đã hòa đồng vào giá trị dân tộc. Nói cách khác, các giá trị đó có tính lưỡng trị (bivalent). Đó cũng là tiêu chuẩn của nhân dân để tiếp nhận các giá trị phổ biến của nhân loại.

Chẳng hạn, trước các phạm trù nhânnghĩavốn có trong triết học Trung Hoa, Nguyễn Trãi, nhà yêu nước của Việt Nam ở thế kỷ XV, đã khẳng định: “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Ở đây, hạnh phúc yên vui của nhân dân mới là mục đích chân chính của việc thực hiện các hành vi nhân nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người kết tinh các giá trị dân tộc, thường khai thác những gì tốt đẹp trong di sản tinh thần châu Á đó phục vụ cho việc xây dựng cuộc sống mới của nhân dân. Chẳng hạn, khi Người nói: “ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” là Người đã nhắc lại một câu trong sách Khổng Tử. Người cũng thường đánh giá cao tư tưởng nhân ái của đức Phật.

Bằng cách hòa nhập những giá trị phổ biến vào giá trị dân tộc, dân tộc chúng tôi cũng như những người con ưu tú, đã làm cho các giá trị tinh thần châu Á có sức sống.

Bất kỳ một học thuyết tư tưởng nào hình thành trong lịch sử, dầu có nhiều giá trị to lớn đến mấy, cũng có những phần sống và những phần chết. Phần chết là những phần đã lỗi thời trong quá trình vận động của lịch sử. Phần sống là những phần còn có khả năng đóng góp cho lợi ích hiện tại của các dân tộc. Trong di sản tinh thần châu Á, vẫn còn nhiều phần sống, có thể giúp chúng ta trong cuộc đấu tranh cho tự do, hòa bình và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng sức sống của các giá trị đó không phải bao giờ cũng như nhau. Châu Á, cái nôi của nhiều nền văn minh, đã có một thời ngưng đọng trì trệ. Như Pandit Jawaharlal Nehru đã nhận xét trong lời khai mạc Hội nghị Quan hệ châu Á (Asian Relations Conference) năm 1947: “Châu Á năng động này, mà từ đây những dòng suối lớn của văn hóa đã lan ra mọi hướng, đã dần dần trở nên tĩnh lặng và bất biết”.Nhưng Pandit cũng đã nói: “Hiện nay một sự chuyển biến đang diễn ra, và châu Á lại đang tìm thấy bản thân mình. Chúng ta đang sống trong một thời đại quá độ lớn lao và giai đoạn tiếp sau hình thành khi châu Á chiếm được vị trí xứng đáng đối với các châu lục khác”.

40 năm đã qua, châu Á đã lấy lại tính năng động trong cuộc đấu tranh của các dân tộc trong khu vực cho tự do và hòa bình. Và trong cuộc đấu tranh đó, nhiều giá trị tinh thần châu Á đã được làm sống lại.

Tìm hiểu và nhìn nhận các giá trị và di sản chung, các dân tộc châu Á cảm thấy gần gũi và hiểu biết lẫn nhau.

Thật hiển nhiên, cái minh triết của người xưa góp phần vào sự sáng suốt của chúng ta ngày nay. Chẳng hạn, hiện nay khi loài người tiến bộ đang đấu tranh cho một nền hòa bình lâu dài, không có vũ khí hạt nhân, chúng ta không thể không nhớ lại lời dạy của đức Phật từ 2.500 năm trước:

Chúng sanh cầu sự an lạc

Không dùng vũ khí để gây hại cho người khác

Tìm sự an lạc cho mình

Và cho đời sau được an lạc

( Kinh Pháp cú 132)

Các giá trị tinh thần châu Á, như vậy, vẫn là bích ngọc, mã não của chúng ta, vẫn là xe là thuyền của chúng ta trên con đường đến cuộc sống mới.

Nguồn: Xưa & Nay, số 280, 3/2007, tr 3

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.