Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 23/07/2014 19:10 (GMT+7)

Sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao cho cây chè

Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

Hàng năm, các nước xuất khẩu chè lớn nhất là Kenya, Sri Lanka, Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam; các nước nhập khẩu chè lớn nhất là Liên bang Nga, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất, Ai Cập.

Cây chè ưa nóng ẩm. Yêu cầu nhiệt độ của các giống chè rất khác nhau: Chè Shan thích hợp nhất 15-20 độ C (thấp nhất - 50 độ C, cao nhất 32 độ C); các giống chè trung du thích hợp nhất 20-25 độ C (thấp nhất 0 độ C, cao nhất 35 độ C). Khi nhiệt độ 10 -12 độ C cây chè ngừng sinh trưởng. Độ ẩm không khí phải đảm bảo 85 - 90% thì cây chè mới sinh trưởng tốt, khi độ ẩm dưới 70% thì năng suất chè có bị ảnh hưởng.

1. Yêu cầu về đất và dinh dưỡng

Cây chè được trồng trên nhiều loại đất như đất bazan, phù sa cổ trên phiến thạch và sa thạch. Đất trồng chè phải có độ dày tầng canh tác ít nhất là 60cm, giữ ẩm và thoát nước tốt, có phản ứng chua pH 5,0-5,5 là thích hợp nhất. Khi pH > 6 hoặc pH < 4 cây chè phát triển kém, khi pH > 7 cây chè có thể bị chết. Việc bón vôi cải tạo đất chua hoặc sử dụng phân bón cho cây chè cần chú ý duy trì pH trong khoảng 4,5 – 5,5. Cây chè thường được trồng với mật độ khoảng 10.000 hốc/ha.

Trung bình năng suất 2 tấn chè búp khô lấy đi 80kg N, 23kg P2O5, 48kg K2O, 8kg MgO và 16kg CaO. Lượng hút dinh dưỡng của chè cần tính đến cả lượng dinh dưỡng bị mất theo cành và thân do đốn định kỳ. Như vậy, hàng năm cây chè hút tổng số khoảng 144kg N, 71kg P2O5, 62kg K2O, 24kg MgO và 40kg CaO. Những năm mới trồng, lượng đạm bón trong khoảng 120 – 240kg N/ha và tỷ lệ N: K2O là 1: 0,5; thời kỳ thu hoạch, tỷ lệ N: K2O là 1: 1 với lượng bón 240 - 300kg N và 240 -300kg K2O. Những nương chè cho năng suất cao đã bón tới 350kg N và 350kg K2O.

Việc cung cấp các nguyên tố trung, vi lượng hợp lý làm tăng năng suất chè búp khô, cụ thể như sau: Bón bo (B) tăng 12,6%, kẽm (Zn) tăng 15,8%, magan (Mn) tăng 16,0%, đồng (Cu) tăng 12,8%, magiê (Mg) tăng 16,5%, lưu huỳnh (S) tăng 21,3%, molipden (Mo) tăng 11,6%, canxi (Ca) tăng 10,6%; bón đồng thời magiê (Mg), lưu huỳnh (S), molipden (Mo), đồng (Cu) tăng 25,2%; bón đồng thời bo (B), kẽm (Zn), mangan (Mn), canxi (Ca) tăng 19,8%; bón đồng thời molipden (Mo), bo (B), kẽm (Zn), đồng (Cu) tăng 18,4%; bón đồng thời molipden (Mo), bo (B), kẽm (Zn), đồng (Cu), mangan (Mn) tăng 21,5%; bón đồng thời magiê (Mg), lưu huỳnh (S), molipden (Mo), bo (B), kẽm (Zn), đòng (Cu), mangan (Mn) tăng 25,4%. Bón phân trung vi lượng phối hợp làm tăng hiệu quả sử dụng N, P, K đối với chè (Nguyễn Văn Chiến, 2007).

Trong thành phần của phân bón NPK-S Lâm Thao ngoài đạm, lân, kali còn bổ sung khá đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng trung, vi lượng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng như canxi, magiê, lưu huỳnh, kẽm, đồng, sắt, molipđen, bo... Do đó sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao sẽ tăng năng suất và chất lượng chè.

2. Sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao cho chè kinh doanh hái bằng tay

Lượng phân bón Lâm Thao NPK-S 12.5.10-14 hoặc NPK-S 10.5.10-5 được tính như sau:

Lượng phân bón tính cho 1ha:

- Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 612 – 750kg.

- Bón lần 2 (tháng 5÷6): 612 - 750kg.

- Bón lần 3 (tháng 8÷9): 500 - 667kg.

Lượng phân bón tính cho 1 sào Bắc Bộ (360m2):

- Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 22 - 27g.

- Bón lần 2 (tháng 5÷6): 22 - 27kg.

- Bón lần 3 (tháng 8÷9): 18 - 24kg.

3. Sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao cho chè kinh doanh hái bằng máy

Trên nương chè hái bằng máy, lượng phân bón được sử dụng so với hái bằng tay cần tăng lên khoảng 35%. Lượng phân bón Lâm Thao NPK-S 12.5.10-14 hoặc NPK-S 10.5.10-5 được tính như sau:

Lượng phân bón tính cho 1ha:

- Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 826 – 1.013kg.

- Bón lần 2 (tháng 5÷6): 826 – 1.013kg.

- Bón lần 3 (tháng 8÷9): 675 – 900kg.

Lượng phân bón tính cho 1 sào Bắc Bộ (360m2):

- Bón lần 1 (cuối tháng 2, đầu tháng 3): 30 - 36kg.

- Bón lần 2 (tháng 5÷6): 30 - 36kg.

- Bón lần 3 (tháng 8÷9): 24 - 32kg.

Chúc bà con nông dân sử dụng phân bón NPK-S Lâm Thao cho các nương chè hái bằng tay và hái bằng máy theo đúng quy trình kỹ thuật để mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao.

   Tại Việt Nam, cây chè được trồng trên nhiều vùng  ở  miền  Bắc, miền Trung, Tây Nguyên... Chè là cây công nghiệp dài ngày cho sản phẩm thu hái nhiều lần trong  năm, trong đó sản phẩm thu hoạch  (búp chè) chỉ chiếm 8 - 13% tổng toàn bộ sinh khối của cây chè.  

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.